Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ về Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030
19/05/2026
Ngày 24/4/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 2227/QĐ-BKHCN về Kế hoạch tổng thể về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. Đây là văn bản quan trọng nhằm cụ thể hóa Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025, Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, đồng thời gắn với mục tiêu phấn đấu đạt tăng trưởng kinh tế “2 con số” trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở đánh giá toàn diện kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021 - 2025. Theo đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có bước phát triển tích cực, đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được tăng cường, thể chế và chính sách từng bước được hoàn thiện theo hướng thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.
Tuy nhiên, lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn còn nhiều hạn chế như tốc độ bứt phá chưa cao; nhiều công nghệ lõi, công nghệ chiến lược còn phụ thuộc vào nước ngoài; nguồn lực đầu tư chưa tương xứng với yêu cầu phát triển; nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng nghiên cứu, dữ liệu và chuyển đổi số chưa đồng bộ; thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm; doanh nghiệp chưa thực sự giữ vai trò trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, Kế hoạch xác định mục tiêu tổng quát là đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, nền tảng bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống; từng bước làm chủ, phát triển và ứng dụng các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hiện đại, hội nhập quốc tế.
Kế hoạch đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể quan trọng đến năm 2030 như: đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55%; tổng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tối thiểu 2% GDP; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 quốc gia dẫn đầu thế giới; hình thành 100 trung tâm đổi mới sáng tạo và 01 trung tâm siêu tính toán quốc gia, đồng thời phát triển mạng lưới các trung tâm tính toán hiệu năng cao chuyên ngành; Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo; phát triển tối thiểu 5 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được định giá trên 1 tỷ USD; từng bước làm chủ khoảng 70% nhóm công nghệ chiến lược.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Kế hoạch đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, đáng chú ý là việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng phù hợp với nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế; đổi mới cơ chế thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo hướng đặt hàng nhiệm vụ, khoán chi đến sản phẩm cuối cùng và tăng cường hậu kiểm; xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, blockchain, dữ liệu lớn, robot, công nghệ sinh học và năng lượng mới.
Kế hoạch cũng nhấn mạnh việc huy động nguồn lực xã hội cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo mô hình “ngân sách nhà nước dẫn dắt - xã hội cùng đầu tư”; ưu tiên phát triển hạ tầng nghiên cứu, dữ liệu và tính toán hiện đại; xây dựng hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm dữ liệu quốc gia, trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo và hạ tầng phục vụ nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược.
Một nội dung quan trọng khác của Kế hoạch là phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao thông qua cơ chế thu hút, trọng dụng chuyên gia trong và ngoài nước; tăng cường đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược; thúc đẩy lưu chuyển tri thức giữa viện, trường và doanh nghiệp; nâng cao năng lực quản trị công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Kế hoạch đồng thời xác định rõ định hướng nâng cao năng lực làm chủ công nghệ chiến lược quốc gia, ưu tiên các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, năng lượng sạch, công nghệ vũ trụ, robot và tự động hóa thông minh. Bên cạnh đó, Kế hoạch chú trọng thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển thị trường khoa học và công nghệ, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện, trường và doanh nghiệp theo mô hình hợp tác “ba nhà”.
Ngoài ra, Kế hoạch đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu mở rộng hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng chuyển từ hợp tác học thuật sang hợp tác chiến lược về công nghệ; tăng cường tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; thúc đẩy phát triển các sản phẩm công nghệ “Make in Viet Nam” và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Để bảo đảm tổ chức thực hiện hiệu quả, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao làm cơ quan đầu mối chủ trì tổ chức triển khai Kế hoạch trên phạm vi toàn quốc; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của các bộ, ngành, địa phương; bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Các bộ, ngành và địa phương căn cứ Kế hoạch này để xây dựng chương trình, nhiệm vụ và kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với đặc điểm, yêu cầu phát triển của từng ngành, từng địa phương và từng lĩnh vực cụ thể.


