Những thay đổi trong quy trình đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Sign In

Thông Báo

Những thay đổi trong quy trình đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành

1. Cơ sở pháp lý quy định về quy trình nghiệm thu kết quả nhiệm vụ nghiên cứu khoa học
 
- Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 (Điều 37);
 
- Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ hướng dẫn việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước;
 
2. Quy trình đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành
 
Điều 37 Luật Khoa học và công  nghệ năm 2013 quy định “Nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, khi kết thúc phải được đánh giá nghiệm thu khách quan, chính xác thông qua Hội đồng khoa học và công nghệ chuyên ngành”. Như vậy, việc đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua Hội đồng đánh giá nghiệm thu.
 
Theo quy định của Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ hướng dẫn việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước thì việc đánh giá nghiệm thu được thực hiện theo hai bước: (1) Tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ; (2) đánh giá nghiệm thu kết quả tại Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu.
 
2.1. Tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
 
- Quy trình đánh giá:
 
Theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ và Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ thì việc đánh giá nghiệm thu bước một là do tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ tự đánh giá. Đây là quy định mới so với quy định trước đây việc đánh giá nghiệm thu sơ bộ do cơ quan quản lý nhiệm vụ tổ chức đánh giá thông qua Hội đồng nghiệm thu sơ bộ hoặc lấy ý kiến chuyên gia độc lập.
 
“Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ có trách nhiệm tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Điều 12 và Điều 13 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ trước khi nộp hồ sơ đánh giá, nghiệm thu cho đơn vị quản lý nhiệm vụ”.
 
Kết quả tự đánh giá được tổng hợp và báo cáo theo Mẫu 1 tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ”[1].
 
- Nội dung đánh giá và yêu cầu đối với sản phẩm:
 
+ Nội dung đánh giá
 
a) Đánh giá về báo cáo tổng hợp: Đánh giá tính đầy đủ, rõ ràng, xác thực và lô-gíc của báo cáo tổng hợp (phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng …) và tài liệu cần thiết kèm theo (các tài liệu thiết kế, tài liệu công nghệ, sản phẩm trung gian, tài liệu được trích dẫn);
 
b) Đánh giá về sản phẩm của nhiệm vụ so với đặt hàng, bao gồm: Số lượng, khối lượng sản phẩm; chất lượng sản phẩm; chủng loại sản phẩm; tính năng, thông số kỹ thuật của sản phẩm.
 
+ Yêu cầu cần đạt đối với báo cáo tổng hợp:
 
a) Tổng quan được các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến nhiệm vụ;
 
b) Số liệu, tư liệu có tính đại diện, độ tin cậy, xác thực, cập nhật;
 
c) Nội dung báo cáo là toàn bộ kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ được trình bày theo kết cấu hệ thống và lô-gíc khoa học, với các luận cứ khoa học có cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thể giải đáp những vấn đề nghiên cứu đặt ra, phản ánh trung thực kết quả nhiệm vụ phù hợp với thông lệ chung trong hoạt động nghiên cứu khoa học;
 
d) Kết cấu nội dung, văn phong khoa học phù hợp[2].
 
- Phương pháp tự đánh giá và xếp loại đối với nhiệm vụ
 
Căn cứ vào nội dung đánh giá và yêu cầu đối với sản phẩm đánh giá như trên, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ tổ chức tự đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ đối với từng sản phẩm đã hoàn thành; báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ và đánh giá chung của nhiệm vụ theo các mức:
 
+ Đối với sản phẩm đã hoàn thành của nhiệm vụ: đánh giá trên các tiêu chí về số lượng, khối lượng, chất lượng sản phẩm theo 03 mức sau: “Xuất sắc” khi vượt mức so với đặt hàng; “Đạt” khi đáp ứng đúng, đủ yêu cầu theo đặt hàng; “Không đạt” không đáp ứng đúng, đủ yêu cầu theo đặt hàng.
 
+ Đối với báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ: đánh giá theo 03 mức sau: “Xuất sắc” khi báo cáo tổng hợp đã hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu như nội dung đánh giá nêu trên; “Đạt” khi báo cáo tổng hợp cần chỉnh sửa, bổ sung và có thể hoàn thiện; “Không đạt” khi không thuộc hai trường hợp trên.
 
+ Đối với việc đánh giá chung nhiệm vụ theo 03 mức sau: “Xuất sắc” khi tất cả tiêu chí về sản phẩm đều đạt mức ‘Xuất sắc” và Báo cáo tổng hợp đạt mức “Đạt” trở lên; “Đạt” khi đáp ứng đồng thời các yêu cầu: Tất cả các tiêu chí về chất lượng, chủng loại sản phẩm ở mức “Đạt” trở lên; ít nhất 3/4 tiêu chí về khối lượng, số lượng sản phẩm ở mức “Đạt” trở lên (những sản phẩm không đạt về khối lượng, số lượng thì vẫn phải đảm bảo đạt ít nhất 3/4 so với đặt hàng), Báo cáo tổng hợp đạt mức “Đạt” trở lên; “Không đạt” khi không thuộc hai trường hợp trên hoặc nộp hồ sơ chậm quá 06 tháng kể từ thời điểm kết thúc hợp đồng hoặc thời điểm được gia hạn (nếu có).
 
Kết thúc quá trình tự đánh giá Ban chủ nhiệm nhiệm vụ và Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ phải hoàn thiện báo cáo kết quả tự đánh giá nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Mẫu 1 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ (Phụ lục kèm theo chuyên đề này) trong đó cần nêu rõ những đóng góp mới của nhiệm vụ, hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, tiến độ thực hiện, tự xếp loại kết quả thực hiện nhiện vụ và cam đoan nội dung của Báo cáo là trung thực, không sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác trái với quy định của pháp luật.
 
2.2. Đánh giá nghiệm thu kết quả tại Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học
 
Sau khi kết quả thực hiện nhiệm vụ đã được Ban chủ nhiệm và Tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ tổ chức tự đánh giá và hoàn thiện báo cáo kết quả tự đánh giá, Ban chủ nhiệm nhiệm vụ hoàn thiện hồ sơ đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ để gửi về cơ quan quản lý nhiệm vụ tổ chức nghiệm thu theo trình tự quy định như sau:
 
- Hồ sơ đánh giá nghiệm thu kết quả nhiệm vụ khoa học bao gồm:
 
1. Công văn đề nghị đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ của tổ chức chủ trì.
 
2. Báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện nhiệm vụ.
 
3. Báo cáo về sản phẩm khoa học và công nghệ của nhiệm vụ.
 
4. Bản sao hợp đồng và thuyết minh nhiệm vụ.
 
5. Các văn bản xác nhận và tài liệu liên quan đến việc công bố, xuất bản, đào tạo, tiếp nhận và sử dụng kết quả nghiên cứu (nếu có).
 
6. Các số liệu (điều tra, khảo sát, phân tích…), sổ nhật ký của nhiệm vụ.
 
7. Văn bản xác nhận về sự thỏa thuận của các tác giả về việc sắp xếp thứ tự tên trong danh sách tác giả thực hiện nhiệm vụ.
 
8. Báo cáo tình hình sử dụng kinh phí của nhiệm vụ.
 
9. Báo cáo tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ.
 
10. Các tài liệu khác (nếu có) [3].
 
- Thời hạn và hình thức nộp hồ sơ đánh giá nghiệm thu kết quả nhiệm vụ khoa học:
 
+ Thời hạn nộp hồ sơ: Việc nộp hồ sơ thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ thời điểm kết thúc hợp đồng hoặc thời điểm được gia hạn hợp đồng (nếu có).
 
+ Hình thức nộp: Hồ sơ được nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến đơn vị quản lý nhiệm vụ, gồm: 01 bộ hồ sơ gốc (có dấu và chữ ký trực tiếp) và 01 bản điện tử (dạng PDF, không cài bảo mật) [4].
 
- Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả nhiệm vụ khoa học:
 
+ Hội đồng đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ cấp quốc gia do Thủ trưởng Bộ chủ trì nhiệm vụ quyết định thành lập trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.
 
+ Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ (sau đây gọi là Hội đồng) có 09 thành viên bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch, 02 ủy viên phản biện, ủy viên thư ký khoa học và các ủy viên khác [5].
 
- Nội dung đánh giá và yêu cầu đối với sản phẩm của nhiệm vụ:
 
+ Nội dung đánh giá:
 
a) Đánh giá về báo cáo tổng hợp: Đánh giá tính đầy đủ, rõ ràng, xác thực và lô-gíc của báo cáo tổng hợp (phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng …) và tài liệu cần thiết kèm theo (các tài liệu thiết kế, tài liệu công nghệ, sản phẩm trung gian, tài liệu được trích dẫn);
 
b) Đánh giá về sản phẩm của nhiệm vụ so với đặt hàng, bao gồm: Số lượng, khối lượng sản phẩm; chất lượng sản phẩm; chủng loại sản phẩm; tính năng, thông số kỹ thuật của sản phẩm.
 
- Yêu cầu cần đạt đối với báo cáo tổng hợp:
 
a) Tổng quan được các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến nhiệm vụ;
 
b) Số liệu, tư liệu có tính đại diện, độ tin cậy, xác thực, cập nhật;
 
c) Nội dung báo cáo là toàn bộ kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ được trình bày theo kết cấu hệ thống và lô-gíc khoa học, với các luận cứ khoa học có cơ sở lý luận và thực tiễn cụ thể giải đáp những vấn đề nghiên cứu đặt ra, phản ánh trung thực kết quả nhiệm vụ phù hợp với thông lệ chung trong hoạt động nghiên cứu khoa học;
 
d) Kết cấu nội dung, văn phong khoa học phù hợp [6].
 
- Phương thức đánh giá và xếp loại đối với nhiệm vụ:
 
+ Đánh giá của thành viên Hội đồng:
 
a) Mỗi chủng loại sản phẩm của nhiệm vụ đánh giá trên các tiêu chí về số lượng, khối lượng, chất lượng sản phẩm theo 03 mức sau: “Xuất sắc” khi vượt mức so với đặt hàng; “Đạt” khi đáp ứng đúng, đủ yêu cầu theo đặt hàng; “Không đạt” không đáp ứng đúng, đủ yêu cầu theo đặt hàng.
 
b) Báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ đánh giá theo 03 mức sau: “Xuất sắc” khi báo cáo tổng hợp đã hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 12; “Đạt” khi báo cáo tổng hợp cần chỉnh sửa, bổ sung và có thể hoàn thiện; “Không đạt” khi không thuộc hai trường hợp trên.
 
c) Đánh giá chung nhiệm vụ theo 03 mức sau: “Xuất sắc” khi tất cả tiêu chí về sản phẩm đều đạt mức ‘Xuất sắc” và Báo cáo tổng hợp đạt mức “Đạt” trở lên; “Đạt” khi đáp ứng đồng thời các yêu cầu: Tất cả các tiêu chí về chất lượng, chủng loại sản phẩm ở mức “Đạt” trở lên; ít nhất 3/4 tiêu chí về khối lượng, số lượng sản phẩm ở mức “Đạt” trở lên (những sản phẩm không đạt về khối lượng, số lượng thì vẫn phải đảm bảo đạt ít nhất 3/4 so với đặt hàng), Báo cáo tổng hợp đạt mức “Đạt” trở lên; “Không đạt” khi không thuộc hai trường hợp trên hoặc nộp hồ sơ chậm quá 06 tháng kể từ thời điểm kết thúc hợp đồng hoặc thời điểm được gia hạn (nếu có).
 
- Đánh giá, xếp loại của Hội đồng:
 
a) Mức “Xuất sắc” nếu nhiệm vụ có ít nhất 3/4 số thành viên hội đồng có mặt nhất trí đánh giá mức “Xuất sắc” và không có thành viên đánh giá ở mức “Không đạt”;
 
b) Mức "Không đạt" nếu nhiệm vụ có nhiều hơn 1/3 số thành viên hội đồng có mặt đánh giá mức không đạt;
 
c) Mức “Đạt” nếu nhiệm vụ không thuộc điểm a và điểm b Khoản này.
 
- Đối với nhiệm vụ được hội đồng đánh giá ở mức “Đạt” trở lên, trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi có kết quả đánh giá, chủ nhiệm nhiệm vụ có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ theo ý kiến kết luận của hội đồng [7].
 
- Xử lý kết quả đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ:
 
+ Nhiệm vụ được quyết toán và thanh lý hợp đồng sau khi các sản phẩm của nhiệm vụ và tài sản đã mua sắm bằng ngân sách nhà nước được kiểm kê và bàn giao theo quy định hiện hành.
 
+ Đối với nhiệm vụ xếp loại ở mức “Không đạt”, Đơn vị quản lý nhiệm vụ chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan xác định số kinh phí phải hoàn trả ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành.
 
+ Việc công bố và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ được thực hiện theo các quy định hiện hành.
 
+ Tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ có kết quả thực hiện nhiệm vụ bị đánh giá ở mức “Không đạt” hoặc không gửi Hồ sơ đề nghị đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ về Đơn vị quản lý nhiệm vụ đúng thời gian quy định sẽ bị hạn chế quyền đăng ký xét giao trực tiếp hoặc tuyển chọn nhiệm vụ cấp quốc gia theo quy định tại Thông tư quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước [8].
 
3. Một số điểm mới của Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ về quy trình đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ khoa học
 
Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước đã có nhiều điểm mới trong cơ chế nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học, trong đó phải kể đến các nội dung nổi bật như:
 
- Về phương thức đánh giá nghiệm thu: việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được thực hiện theo hai bước gồm: (1) Tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ; (2) đánh giá nghiệm thu kết quả tại Hội đồng đánh giá nghiệm thu.
 
- Về xếp hạng nhiệm vụ khoa học: theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ thì việc xếp loại này chỉ bao gồm 3 mức: Xuất sắc, đạt và không đạt.
 
- Về xử lý kết quả đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ khoa học: theo quy định hiện hành tại Điều 15 của Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ đã quy định rõ hướng giải quyết và chế tài được áp dụng đối với các trường hợp này, cụ thể:
 
+ Đối với nhiệm vụ xếp loại ở mức “Không đạt”, Đơn vị quản lý nhiệm vụ chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan xác định số kinh phí phải hoàn trả ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành.
 
+ Tổ chức chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ có kết quả thực hiện nhiệm vụ bị đánh giá ở mức “Không đạt” hoặc không gửi Hồ sơ đề nghị đánh giá, nghiệm thu nhiệm vụ về Đơn vị quản lý nhiệm vụ đúng thời gian quy định sẽ bị hạn chế quyền đăng ký xét giao trực tiếp hoặc tuyển chọn nhiệm vụ theo quy định tại Thông tư quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
 
Như vậy, có thể thấy rằng quy trình đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 và Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ đã có nhiều điểm đổi mới so với trước đây. Việc đánh giá nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học được quy định khắt khe hơn về mức xếp loại và quy trình đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ, đồng thời quy định rõ cách thức xử lý về tài chính khi nhiệm vụ nghiệm thu mà không đạt yêu cầu theo đề cương đã được duyệt. Đây là điểm mới rất đáng để các đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ cũng như các chủ nhiệm nhiệm vụ chú ý, lưu tâm.
 
[1] Điều 5 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[2] Điều 12 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[3] Điều 6 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[4] Điều 7 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[5] Điều 9 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[6] Điều 12 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[7] Điều 13 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước
[8] Điều 15 Thông tư số 11/2014/TT-BKHCN ngày 30 tháng 5 năm 2014 của Bộ Khoa học và công nghệ quy định việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước.
 
Người tổng thuật: Nguyễn Lan