Kỹ năng tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý
Sign In

Diễn đàn nghiên cứu trao đổi

Kỹ năng tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý

PHẦN I.
KHÁT QUÁT VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHPL TRONG QUY TRÌNH CHUNG CỦA MỘT DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHPL
 
  1.1. Khái niệm và một số dạng thức nghiên cứu cơ bản của KHPL Nghiên cứu KHPL là quá trình tiến hành các công việc cần thiết để đưa ra ý kiếnvề một vấn đề pháp lý - có thể là làm rõ thêm vấn đề, giải thích cho vấn đề hoặc tìm giải pháp giải quyết vấn đề đó.
Một số dạng thức của một dự án nghiên cứu khoa học pháp lý thường gặp:
(i) Chứng minh một lý thuyết là đúng hay sai (testing-out research);
Ví dụ: Lý thuyết về hệ thuộc pháp luật (legal family) cho rằng đặc điểm cơ bản của hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia được quyết định bởi hệ thống pháp luật mà quốc gia đó thuộc về. Một dự án nghiên cứu có thể chứng minh rằng lý thuyết này đúng/hoặc không đúng.
(ii) Làm rõ hơn một vấn đề cụ thể (exploratory research).
Ví dụ: tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đi kiện trong các vụ tranh chấp về thừa kế.
(iii) Tìm kiếm giải pháp cho một vấn đề (problem-solving research);
Ví dụ: tìm kiếm giải pháp thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
1.2. Tổ chức nghiên cứu KHPL- giai đoạn cơ bản của một dự án nghiên cứu KHPL Giống như trong các lĩnh vực khác, điểm xuất phát của giai đoạn tổ chức hoạt động nghiên cứu KHPL là khi nhà nghiên cứu đã hoàn tất được đề xuất nghiên cứu.Tại thời điểm này,các ý tưởng chính định hướng cho hoạt động nghiên cứu đã được hình thành, trong đó cóchủ đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi chính cần được giải đáp bởi hoạt động nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu.
Tổ chức hoạt động nghiên cứu KHPL là giai đoạn nhà nghiên cứu chuyển giao các ý tưởng trong đề xuất nghiên cứu thành các hoạt động thực tế để đạt được mục tiêu nghiên cứu dự kiến trong lĩnh vực pháp lý.Đây là giai đoạn tập trung phần lớn thời lượng và nguồn lực của một dự án nghiên cứu.Hai nội dung chính cần thực hiện trong giai đoạn này là tập hợp dữ liệu nghiên cứu và xử lý dữ liệu nghiên cứu.Có thể nói, giai đoạn này cung cấp toàn bộ đầu vào (dữ liệu nghiên cứu) và đầu ra của một dự án nghiên cứu (các kết luận chứng minh một lý thuyết là đúng hay sai, cách giải thích hoặc giải pháp cho một vấn đề v.v.)
Do tổ chức hoạt động nghiên cứu là giai đoạn cơ bản của một dự án nghiên cứu, nắm được các kỹ năng để tổ chức các hoạt động này quyết định sự thành công của dự án nghiên cứu. 1.3. Các đặc điểm của một dự án nghiên cứu KHPL Các đặc điểm của một dự án nghiên cứu quyết định các kỹ năng cần thiết để triển khai nó.Việc tổ chức triển khai một dự án nghiên cứu KHPL cần lưu ý những đặc điểm sau:
Tính mới của dự án nghiên cứu KHPL:Một dự án nghiên cứu phải có điểm mới so với các dự án nghiên cứu đã được triển khai trước đó. Lý do là các kết quả nghiên cứu không bị mất đi. Chúng có thể được sử dụng không bị giới hạn về phạm vi cũng như số lần.Hoạt động nghiên cứu tiếp theo, nếu không giải quyết những vấn đề mới sẽ chỉ là một sự lãng phí bởi nó tiêu tốn nguồn lực nhưng không đóng góp gì cho khoa học cũng như thực tiễn. Do vậy, khi triển khai dự án nghiên cứu KHPL, cần nắm đượcvà kế thừa nhữngvấn đềđã được giải quyết trong KHPL để tránh sự lặp lại.[1]
Tính giới hạn của dự án nghiên cứu KHPL: Một dự án nghiên cứu KHPL bao giờ cũng được giới hạn trong phạm vi thời gian cũng như nguồn lực cố định, và hướng đến giải quyết một vấn đề cụ thể. Do vậy, triển khai dự án nghiên cứu đòi hỏi phải phân bổ thời gian cũng như các nguồn lực một cách phù hợp và xác định rõ phạm vi nghiên cứu.
Tính đáng tin cậy của dự án nghiên cứu KHPL:Mục đích của dự án nghiên cứu KHPL là đểcung cấp căn cứ khoa học giúp giải đáp các vấn đề thực tiễn cụ thể trong đời sống pháp lý hoặc các vấn đề lý luận KHPL. Để có được đầu ra của dự án nghiên cứu là các căn cứ đáng tin cậy, quá trình triển khai dự án phải đảm bảo dữ liệu thu thập được cũng như phương pháp xử lý dữ liệu đều đáng tin cậy.
Tính liên ngành trong nghiên cứu KHPL: Nghiên cứu trongKHPL thường mang tính liên ngành. Các vấn đề của KHPL thường gắn với các lĩnh vực khác như chính trị học, kinh tế học, tâm lý học, tội phạm học. Do vậy, tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý không chỉ đòi hỏi phạm vikiến thức rộng mà còn đòi hỏi nhà nghiên cứu phải bám sát vào mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu để tránh sa đà vào các lĩnh vực nghiên cứu khác.

PHẦN II.
KỸ NĂNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHPL

2.1. Xây dựng kế hoạch nghiên cứu:
  • Kế hoạch nghiên cứu xác định các nguồn lực và cách thức phân bổ các nguồn lực này để tổ chức nghiên cứu. Về nguyên tắc, các nguồn lực được giao tương xứng với nhiệm vụ nghiên cứu. Tuy nhiên, chúng vẫn cần được phân bổ hợp lý và được sử dụng một cách tối ưu, nếu không nhiệm vụ nghiên cứu sẽ khó có thể hoàn thành.
  • Xác định các nguồn lực để tổ chức nghiên cứu:
Nguồn lực để tổ chức nghiên cứu bao gồm thời gian, kinh phí, con người, tài liệu và các phương tiện vật chất khác phục vụ cho việc nghiên cứu.
  • Thời gian: Thời gian thực hiện một dự án nghiên cứu thường được xác định theo ngày, tháng của năm dương lịch. Tuy nhiên, không phải một dự án nghiên cứu có thể sử dụng toàn bộ thời gian đó. Trong cùng một khoảng thời gian, nhà nghiên cứu thường tham gia vào các hoạt động chuyên môn khác nhau và do vậy, quỹ thời gian được chia sẻ cho nhiều hoạt động. Lưu ý điều này để tránh tình huốngthời gian dành cho nghiên cứu được đánh giá nhiều hơn mức thời gian thực tế, dẫn đến trì hoãn và không thể hoàn thành dự án đúng thời hạn.
  • Kinh phí: Nguồn kinh phí cấp cho một dự án nghiên cứu được sử dụng để chi trả cho người làm việc, mua tài liệu, tổ chức các hoạt động hội thảo, khảo sát và chi trả cho các điều kiện đảm bảo khác phục vụ cho hoạt động nghiên cứu.
  • Nhân lực: Nhân lực thực hiện dự án nghiên cứu bao gồm nhóm chủ chốt và các cộng tác viên. Nhóm chủ chốt (bao gồm chủ nhiệm, thư ký, các thành viên chính của dự án) chủ động triển khai các hoạt động nghiên cứu, tham gia vào dự án từ đầu đến cuối. Cộng tác viên (bao gồm chuyên gia, người cung cấp số liệu, phiên dịch, người dẫn đường v.v.) tham gia vào dự án khi được mời và chỉ thực hiện phần công việc được giao.
  • Các tài liệu, số liệu: là nguồn dữ liệu đã có và có thể được khai thác để phục vụ cho dự án nghiên cứu.
  • Cơ sở vật chất: là các phương tiện đã cócó thể được sử dụng cho hoạt động nghiên cứu như phòng làm việc, hội trường, máy tính, máy ghi âm, văn phòng phẩm v.v.
  • Phân bổ nguồn lực trong kế hoạch nghiên cứu: để có thể phân bổ nguồn lực một cách phù hợp, hoạt động nghiên cứu cần được phân chia thành những hoạt động nhỏ hơn, từ đó hình thành các giai đoạn kế tiếp nhau trong hoạt động nghiên cứu. Tuỳ vào tính chất của các hoạt động mà mỗi giai đoạn được phân bổ khoảng thời gian phù hợp, có cân đối với hoạt động của các giai đoạn khác. Trong mỗi giai đoạn cũng cần xác định rõ người thực hiện, các chi phí và phương tiện cần thiết phục vụ cho hoạt động cần thực hiện và đầu ra dự kiến cho mỗi giai đoạn.
2.2. Tiến hành thu thập dữ liệu:
  • Hoạt động thu thập dữ liệu cung cấp đầu vào cho một dự án nghiên cứu.Kết quả của hoạt động này là bộ dữ liệu được sử dụng để đánh giá, phân tích, từ đó có thể rút ra các kết luận theo mục tiêu đặt ra cho dự án nghiên cứu.
  • Nội dung, phạm vi và phương pháp nghiên cứu xác định các dữ liệu cần phải thu thập.
Ví dụ, một dự án nghiên cứu về luật cạnh tranh cần có các dữ liệu liên quan đến cạnh tranh. Tuy nhiên nếu đó là nghiên cứu so sánh và phạm vi so sánh là các nước ASEAN thì dữ liệu phải là luật cạnh tranh của các nước ASEAN cũng như những tài liệu nghiên cứu về các đạo luật này.
  • Các dữ liệu cần được thu thập bao gồm:
  • Dữ liệu sơ cấp: là dữ liệu được hình thành trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu.[2]
Một số ví dụ về dữ liệu sơ cấp trong nghiên cứu KHPL: văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính, thông tin được chia sẻ bởi người trực tiếp thực thi quy định pháp luật v.v.
Cách thu thập dữ liệusơ cấp trong nghiên cứu KHPL: thông tin sơ cấp phải được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu (phỏng vấn, trao đổi với người được coi là đối tượng nghiên cứu hoặc tiếp nhận thông tin mà mà đối tượng nghiên cứu tạo ra;quan sát đối tượng nghiên cứu và ghi chép; tiếp nhận tài liệu mà cơ quan có thẩm quyền thu thập và lưu giữ v.v.)
  • Dữ liệu thứ cấp: là dữ liệu được tạo ra trên cơ sở dữ liệu sơ cấp.[3]
Một số ví dụ về dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu KHPL: bình luận văn bản luật, báo cáo kết quả nghiên cứu v.v.
Cách thu thập dữ liệu thứ cấp trong KHPL: dữ liệu thứ cấp chủ yếu được thu thập từ các hoạt động nghiên cứu đã được thực hiện trên đối tượng nghiên cứu.

 
  • Triển khai thu thập thông tin:
Thư viện, các đơn vị quản lý cơ sở dữ liệu vàcác hệ thống lưu trữ thông tin khác;
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nghiên cứu;
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến đối tượng nghiên cứu;
Các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm được thông tin về đối tượng nghiên cứu;
Mạng internet, cửa hàng sách, các nguồn thông tin khác.

 
  • Một số yêu cầu khi thu thập thông tin
  • Đảm bảo tính đáng tin cậy của dữ liệu
Khi thu thập thông tin phải đảm bảo tính đáng tin cậy của dữ liệu. Nhà nghiên cứu phải áp dụng các biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng dữ liệu thu thập được là chính xác ở mức cao nhất có thể. Yêu cầu này cần được đối với cả dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.

Dữ liệu sơ cấp, do được thu trực tiếp từ nguồn phát sinh thông tin nên thường đảm bảo tính tin cậy cao. Ví dụ,khi nghiên cứu về ý thức tuân thủ pháp luật của người dân khi tham gia giao thông ở Việt Nam thì các báo cáo về các vụ tai nạn giao thông của cơ quan công an, thông tin thu được từ phỏng vấn người tham gia giao thông là nguồn đáng tin cậy. Tuy nhiên, cần lưu ý những yếu tố tâm lý, môi trường, quan hệ công tác v.v. dẫn đến thông tin được cung cấp có thể bị sai lệch. Chẳng hạn nếu phỏng vấn một nhân viên về ý thức của họ trong quá trình tham gia giao thông khi có mặt lãnh đạo của họ thì nhiều khả năng người đó sẽ chỉ nói về việc mình đã tuân thủ tốt như thế nào mà bỏ qua thói quen không tuân thủ.
Khác với dữ liệu sơ cấp, dữ liệu thứ cấp là dữ liệu đã được qua xử lý nên tính tin cậy của nó cần được xem xét một cách cẩn trọng hơn. Thông thường, các sách, báo, bài nghiên cứu được xuất bản bởi các nhà xuất bản có uy tín được coi là những dữ liệu thứ cấp đáng tin cậy. Ngược lại, những bài viết của cá nhân chưa được xuất bản, những tài liệu chưa rõ nguồn hoặc những tài liệu từ những nguồn như wikipedia không được coi là nguồn đáng tin cây. Lý do là wikipedia là một dạng dữ liệu nguồn mở cho phép mọi người cung cấp thông tin nhưng không có những biện pháp kiểm soát tính chính xác của nguồn tin.
Cũng cần lưu ý rằng tuỳ vào mục đích và cách thức sử dụng mà một loại dữ liệu không đáng tin cậy cho một mục tiêu nghiên cứu này có thể được coi là đáng tin cậy cho một mục tiêu nghiên cứu khác. Ví dụ: thông tin trên mạng xã hội về một vụ án tham nhũng không phải là nguồn để khẳng định các tình tiết của vụ án cũng như chưa thể coi là đáng tin cậy để đánh giá về mức độ hay động cơ tham nhũng. Tuy nhiên, nếu được sử dụng để đánh giá dư luận xã hội đối với vấn đề tham nhũng thì lại có thể coi là nguồn đáng tin cậy.
  • Đảm bảo tính liên quan của dữ liệu
Khi thu thập dữ liệu cần đảm bảo dữ liệu đó phục vụ được cho mục tiêu nghiên cứu đã định ra. Điều này đòi hỏi nhà nghiên cứu luôn phải bám sát mục tiêu nghiên cứu của mình cũng như chủ động phân tích nhanh để lọc các dữ liệu tìm kiếm được.Điều này đặc biệt quan trọng đối với các dự án nghiên cứu KHPL bởi đây thường là những nghiên cứu có tính liên ngành. Phạm vicủa việc thu thập dữ liệu do vậy thường rộng.Nếu nhà nghiên cứu không chủ động đánh giá sơ bộ và lọc các dữ liệu tìm kiếm được thì sẽ rất dễ bị dữ liệu dẫn dắt, dẫn đến nguy cơ xa rời mục tiêu nghiên cứu hoặc dữ liệu thu thập được quá lớn và pha trộn, gây quá tải cho giai đoạn nghiên cứu cuối cùng.
  • Đảm bảo tính cập nhật của dữ liệu
Đối tượng của nghiên cứu KHPL (các quy tắc, luật lệ, sự tác động của các quy tắc, luật lệ trong đời sống xã hội...) luôn vận động không ngừng. Bản thân các nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về các vấn đề này (các dữ liệu thứ cấp) cũng luôn trong quá trình phát triển. Do vậy, nhà nghiên cứu phải đảm bảo các dữ liệu thu thập được phải là những dữ liệu được cập nhật. Điều này không chỉ đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu mà còn giúp nghiên cứu không bị trùng lặp với các hoạt động đã được tiến hành. 2.3. Xử lý dữ liệu: Hoạt động này cần được tiến hành sau khi đã có dữ liệu thu thập được. Dữ liệu được xử lý dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu đã được xác định.
Hoạt động xử lý dữ liệu bao gồm sắp xếp, phân tích, tổng hợp thông tin theo các cấp độ sau:
  • Phân tích từng thông tin: ở cấp độ này, nhà nghiên cứu đánh giá ý nghĩa của từng thông tin đối với mục tiêu nghiên cứu.
Ví dụ: Trong dự án nghiên cứu về vai trò của các thể chế khác nhau (nhà nước và phi nhà nước) trong quản lý phát triển xã hội, các nhà nghiên cứu thu được dữ liệu như sau:
Trong tổng số 1384 người được hỏi có 1123 người, cho rằng chính quyền là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp đất đai, 843/1384người chọn chính quyền là phương thức giải quyết tốt nhất tranh chấp về môi trường, 710/1384 người được hỏi cho rằng chính quyền là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp về ứng xử nơi công cộng; giải quyết tranh chấp trong sinh hoạt hàng ngày giữa các thành viên trong gia đình có 601/1384 người chọn chính quyền địa phương.[4]
Khi phân tích riêng từng thông tin trên đây, nhà nghiên cứu có thể chỉ ra rằng:
  • Tỷ lệ người cho rằng chính quyền là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp về đất đai ở mứcrất cao,chiếm 81,1%. Như vậy, với những tranh chấp phức tạp và có tính kinh tế cao như đất đai, đại đa số người dân có xu hướng dựa vào chính quyền.
  • Đa số người được hỏi, chiếm tới 60,9% cho rằng chính quyền là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp về môi trường.
  • Đa số người được hỏi, chiếm 51,3% cho rằng chính quyền là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp về ứng xử nơi công cộng.
  • Tỷ lệ những người cho rằng chính quyền là phương thức tốt nhất để giải quyết tranh chấp trong gia đình là khá cao, chiếm 43,4%.
  • Phân tích theo nhóm thông tin: ở cấp độ này, nhà nghiên cứu dựa vào các mối liên hệ giữa các mẩu thông tin khác nhau và tập hợp chúng thành nhóm. Việc phân tích thông tin theo nhóm cho phép lập luận và đưa ra các nhận định khái quát hơn.
Ví dụ: Các thông tin được nêu ở ví dụ trên có thể được tổng hợp thành nhóm thông tin về mức độ người dân lựa chọn chính quyền trong giải quyết một số loại tranh chấp. Nhóm thông tin này có thể được phân tích như sau:
  • Nhìn chung, người dân có xu hướng coi chính quyền là phương thức tốt để giải quyết nhiều loại tranh chấp khác nhau như đất đai, môi trường, ứng xử nơi công cộng và tranh chấp trong gia đình. Đặc biệt, càng các tranh chấp có lợi ích kinh tế lớn thì mức độ dựa vào chính quyền để giải quyết tranh chấp càng cao.
Tuỳ thuộc vào các góc nhìn khác nhau mà các thông tin có thể được chia thành các nhóm khác nhau. Chẳng hạn thay vì nhóm các thông tin về mức độ người dân lựa chọn chính quyền trong giải quyết một số loại tranh chấp như trong ví dụ nêu trên, nhà nghiên cứu có thể phân nhóm thông tin theo vai trò của các phương thức khác nhau(chính quyền, hoà giải cơ sở, các thiết chế tôn giáo như nhà thờ, nhà chùa v.v.) trong giải quyết từng loại tranh chấp cụ thể như tranh chấp đất đai, tranh chấp về môi trường, tranh chấp về ứng xử trong đời sống gia đình.
  • Phân tích theotập hợp nhóm thông tin: phân tích theo tập hợp nhóm thông tin là hoạt động xử lý dữ liệu ở mức độ cao hơn so với phân tích theo nhóm thông tin bởi nó có tính khái quát cao hơn và mức độ liên kết giữa các dữ liệu do vậy cũng phức tạp hơn.
Ví dụ: Phân tích các số liệu khảo sát bằng phiếu hỏi về các phương thức được lựa chọn để giải quyết các tranh chấp đất đai, môi trường, ứng xử nơi công cộng và tranh chấp trong gia đình cho thấy
  • Các số liệu thu được từ khảo sát bằng phiếu hỏi cho thấy tất cả các chủ thể như chính quyền, toà án, tổ hoà giả, trưởng thôn, làng, ấp, bản, trưởng tộc, trưởng họ, nhà thờ, nhà chùa đều có vị trí nhất định trong giải quyết tranh chấp xã hội. Khi được hỏi ai là người có thể giải quyết tốt nhất các tranh chấp, trong số các thiết chế giải quyết tranh chấp được khảo sát, các thiết chế mang tính nhà nước hoặc được hỗ trợ bởi nhà nước (chính quyền, toà án, trưởng thôn, tổ hoà giải) có xu hướng được lựa chọn nhiều hơn so với các thiết chế giải quyết tranh chấp thuần tuý mang tính xã hội hay tôn giáo.[5]
Trong quá trình nghiên cứu, mỗi thông tin có thể được chia thành những thông tin nhỏ hơn và mỗi tập hợp nhóm thông tin đều có thể đặt trong những tập hợp lớn hơn. Điều này khiến cho việc phân tích, xử lý dữ liệu được thực hiện theo nhiều tầng, lớp, giúp cho nhà nghiên cứu có được cái nhìn đúng về đối tượng nghiên cứu và đi đến những kết luận xác đáng về đối tượng được nghiên cứu.
Để duy trì sự tích cực, chủ động của nhà nghiên cứu, hoạt động xử lý dữ liệu cần được tiến hành liên tục trong quá trình nghiên cứu thay vì đợi đến giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu. Xử lý dữ liệu trong quá trình nghiên cứu không chỉ giúp nhà nghiên cứu nắm được những dữ liệu thiếu cần được thu thập bổ sung mà còn nhận ra định hướng nghiên cứu đặt ra ban đầu có phù hợp hay không để có những điều chỉnh phù hợp, nếu cần.
2.4. Lập báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu Lập báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu là việc thể hiện toàn bộ kết quả nghiên cứu thành văn bản để có thể truyền tải đến đơn vị đặt hàng nghiên cứu và các đối tượng thụ hưởng khác. Do tầm quan trọng của báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu, các kỹ năng cần thiết đối với hoạt động này sẽ được trình bày trong một chuyên đề riêng. 2.5. Nghiệm thu, chuyển giao, công bố kết quả nghiên cứu
  • Nghiệm thu
Dự án nghiên cứu chỉ được coi là hoàn tất khi cơ quan đặt hàng nghiên cứu đã đồng ý nghiệm thu kết quả nghiên cứu. Thông thường, cơ quan đặt hàng sẽ tổ chức hội đồng nghiệm thuvới thành viên là các chuyên gia am hiểu vấn đề được nghiên cứu. Hội đồng nghiệm thu sẽ đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu của dự án nghiên cứu.
  • Chuyển giao
Để kết quả nghiên cứu đi vào cuộc sống, kết quả nghiên cứu cần được chuyển giao cho các đối tượng thụ hưởng.Tuỳ từng trường hợp, đối tượng thụ hưởng có thể là đơn vị đặt hàng hoặc các đối tượng khác được đơn vị đặt hàng chấp nhận.Trong trường hợp đơn vị đặt hàng không hạn chế về đối tượng thụ hưởng, nhà nghiên cứu có thể chuyển giao kết quả nghiên cứu cho bất kỳ đối tượng nào.
Nghiên cứu khoa học pháp lý liên quan trực tiếp đến hoạt động hoạch định chính sách và thực thi chính sách, hiếm khi được sử dụng như những đối tượng có thể giúp sinh lời trực tiếp trong các dự án kinh doanh. Do vậy, các kết quả nghiên cứu khoa học pháp lý thường không bị hạn chế đối tượng chuyển giao.
  • Công bố kết quả nghiên cứu
Để các kết quả nghiên cứu khoa học được biết đến và được ứng dụng rộng rãi trong thực tế, bên cạnh việc chuyển giao trực tiếp kết quả cho đối tượng thụ hưởng, nhà nghiên cứu cần chú trọng đến công bố kết quả nghiên cứu. Việc công bố kết quả nghiên cứu có thể thông qua các hình thức sau:
  • Viết bài về kết quả nghiên cứu trên các báo, tạp chí;
  • Xuất bản sách;
  • Thuyết trình tại các hội nghị, hội thảo;
  • Tổ chức hội thảo công bố kết quả nghiên cứu.
2.6. Tổ chức hội thảo, toạ đàm trong quá trình triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học Tổ chức hội thảo, toạ đàmlà một hình thức hoạt động quan trọng của quá trình nghiên cứu. Đây là hoạt động có thể được sử dụng cho các mục đích khác nhau trong hoạt động nghiên cứu, cụ thể như sau:
  • Hội thảo, toạ đàm để thu thập dữ liệu;
  • Hội thảo, toạ đàm để tranh thủ ý kiến chuyên gia về định hướng nghiên cứu hoặc hướng xử lý dữ liệu đã thu thập được;
  • Hội thảo, toạ đàm để đánh giá kết quả nghiên cứu và góp ý hoàn thiện;
  • Hội thảo, toạ đàm để công bố kết quả nghiên cứu (từng phần, từng giai đoạn hoặc kết quả cuối cùng).
2.7. Các vấn đề quản lý hành chính trong tổ chức hoạt động nghiên cứu Quản lý hành chính hiệu quả cũng là một yếu tố quan trọng để một dự án nghiên cứu có thể thành công. Công tác quản lý hành chính liên quan đến một dự án nghiên cứu khoa học pháp lý bao gồm những mảng công việc chủ yếu sau
  • Theo dõi tiến độ để đảm bảo thời hạn của hoạt động nghiên cứu: để dự án nghiên cứu hoàn thành đúng thời hạn thì từng bước của hoạt động nghiên cứu cũng phải đảm bảo tiến độ.Nhà nghiên cứu cần chủ động đánh giá kết quả của từng bước trong quá trình nghiên cứu để nắm được tiến độ và đưa ra những biện pháp điều chỉnh nếu cần.
  • Quản lý cộng tác viên: các dự án nghiên cứu thường sử dụng cộng tác viên để thực hiện một số công việc của dự án. Các cộng tác viên thường tham gia vào dự án và chịu trách nhiệm trước chủ nhiệm dự án với tư cách cá nhân. Do đó, chủ nhiệm dự án không thể dựa vào những biện pháp mang tính tổ chức để yêu cầu cộng tác viên thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Nhà nghiên cứu cần tìm hiểu kỹ về cộng tác viên: chuyên môn, kinh nghiệm, thời gian có thể đóng góp cho dự án, mức độ cam kết… để có lựa chọn phù hợp. Đồng thời cần liên hệ chặt chẽ với cộng tác viên trong quá trình thực hiện công việc. Trong trường hợp có dấu hiệu cho thấy cộng tác viên không hoàn thành/không thể hoàn thành đúng công việc đã cam kết cần có phương án chủ động để thay thế.
  • Quản lý tài chính: các dự án nghiên cứu chỉ được phân bổ một mức tài chính cố định và việc chi tiêu cho dự án cũng phải tuân theo các yêu cầu nghiêm ngặt về nội dung chi, mức chi. Do vậy, bên cạnh các hoạt động chuyên môn, nhà nghiên cứu buộc phải theo dõi chặt chẽ các hoạt động chi tiêu trong khuôn khổ dự án nghiên cứu, chi cho các hoạt động của dự án theo mức chi, lưu giữ các hoá đơn, chứng từ và thực hiện quyết toán tài chính theo đúng quy định.
TS. Trần Thị Quang Hồng
Trưởng ban nghiên cứu Pháp luật dân sự-kinh tế, Viện Khoa học pháp lý

 

[1]Dự án nghiên cứu KHPL được coi là lặp lại khi nghiên cứu về cùng một vấn đề pháp lý, sử dụng cùng một phương pháp và bộ dữ liệu và cho ra cùng một kết quả so với dự án nghiên cứu đã được thực hiện trước đó.
[2]Xem thêm tạihttp://www.library.illinois.edu/village/primarysource/mod1/pg1.htm
[3] Xem thêm tại http://www.library.illinois.edu/village/primarysource/mod1/pg2.htm
[4]Trích từ kết quả Đề tài Nghiên cứu cấp nhà nước ‘Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội’ do Tiến sĩ Dương Thị Thanh Mai và các đồng nghiệp thực hiện, được nghiệm thu năm 2010.
[5]Trích tài liệu Đề tài Nghiên cứu cấp nhà nước “Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội” do Tiến sĩ Dương Thị Thanh Mai và các cộng sự thực hiện, được nghiệm thu năm 2010.