Kỹ năng lập báo cáo nghiên cứu khoa học pháp lý
Sign In

Diễn đàn nghiên cứu trao đổi

Kỹ năng lập báo cáo nghiên cứu khoa học pháp lý

PHẦN I.
KHÁI QUÁT VỀ CÔNG VIỆC LẬP BÁO CÁO THUYẾT MINH KẾT QUẢ CỦA DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHPL

 
Công việc quan trọng nhất vào giai đoạn cuối cùng của một dự án nghiên cứu KHPL là nhóm nghiên cứu phải lập được một báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu của dự án.
Báo cáo thuyết minh kết quả của dự án nghiên cứu KHPL là văn bản mô tả kết quả nghiên cứu.Đây không hoàn toàn là một phần độc lập trong quá trình nghiên cứu mà nằm trong giai đoạn tổ chức triển khai hoạt động nghiên cứu.Báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu đánh dấu sự hoàn tất của quá trìnhnghiên cứu, là bằng chứng thể hiện dự án nghiên cứu có thành công hay không cũng như chất lượng của dự án nghiên cứu.
Vào thời điểm lập báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu, nhà nghiên cứu đã phải có hình dung cụ thể về tổng thể dự án nghiên cứu, bao gồm (i) các hoạt động đã được tiến hành, (ii) các dữ liệu đầu vào được sử dụng cho dự án nghiên cứu, (iii) các lập luận cơ bản và các kết luận đầu ra của dự án nghiên cứu.Báo cáo nghiên cứu là sự thể hiện tổng thể của các nội dung trên.
Lập báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu là hoạt động hướng ngoại. Cụ thể là hướngtới hai nhóm đối tượng cơ bản:(i) những người sẽ đánh giá kết quả dự án nghiên cứu và (ii) những người thụ hưởng dự án nghiên cứu. Báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu, do vậy, cần lưu ý đảm bảo các yêu cầu sau:
Tính bao quát: Báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu phải khát quát được toàn bộ nội dung của dự án nghiên cứu trong đó các vấn đề được sắp xếp một cách lô gích và gắn kết với nhau.Kỹ năng tổng quát vấn đề do vậy hết sức quan trọng đối với công việc này.
Tính có thể tiếp cận được: Việc thể hiện các kết quả của dự án nghiên cứu phải đảm bảo các đối tượng liên quan có thể hiểu được. Người lập báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu do vậy cần có kỹ năng trình bày vấn đề một cách rõ ràng, dễ hiểu.
Tính thuyết phục: Báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu phải thuyết phục được các đối tượng liên quan về sự cần thiết và phù hợp của dự án nghiên cứu và đặc biệt là về tính đúng đắn của các kết luận, đề xuất trong dự án nghiên cứu. Do vậy, người lập báo cáo nghiêncứu phải cókỹ năng lập luận, đảm bảo tính chắc chắn cho các kết luận của dự án nghiên cứu.
Tính định hướng:Báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu phải định hướng được người đọc vào trọng tâm của dự án nghiên cứu.Điều này đặc biệt quan trọng đối với các dự án nghiên cứu KHPL bởi các vấn đề pháp lý được diễn giải bằng ngôn ngữ nhiều hơn là các công cụ khác như con số hay hình ảnh. Do vậy các báo cáo kết quả nghiên cứu KHPL thường dài và khó hiểu, đòi hỏi người lập báo cáo nghiên cứu phải có kỹ năng dẫn dắt, giúp người đọc nắm được các vấn đề cơ bản của báo cáo nghiên cứu.
PHẦN II
KỸ NĂNG LẬP BÁO CÁO THUYẾT MINH KẾT QUẢ CỦA DỰ ÁN NGHIÊN CỨU KHPL

 
  1. Kỹ năng xâydựng kết cấu của báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu KHPL
Kết cấu của một báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu KHPL là khung các nội dung chính cần được trình bày trong báo cáo. Một báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu KHPL điển hình thường bao gồm bốn phần cơ bản: (i) phần giới thiệu, (ii) phần phương pháp, (iii) phần mô tả dữ liệu và phân tích dữ liệu và (iv) phần kết luận.
  1. Phần mở đầu/giới thiệu
Trong báo cáo thuyết minh kết quả nghiên cứu, phần mở đầu cung cấp một cái nhìn tổng quan về dự án nghiên cứu cũng như dẫn dắt người đọc đến phần chính của báo cáo thuyết minh.Một phần mở đầu/giới thiệu thành công có thể làm gia tăng sự quan tâm của người đọc tới dự án nghiên cứu và có mong muốn đọc những phần tiếp theo của báo cáo. Những yếu tố có thể làm gia tăng sự quan tâm của người đọc có thể là:
  • Dự án nghiên cứu đi vào những vấn đề pháp lý có tính thời sự-chính trị, được dư luận quan tâm; những vướng mắc trong lý luận pháp lý hay đời sống pháp luật chưa được giải đáp v.v.
  • Dự án được tiến hành nghiêm túc, nguồn thông tin phong phú, đa dạng;
  • Dự án có triển vọng đóng góp tốt cho khoa học và thực tiễn
v.v.
Để đạt được những yêu cầu trên, những vấn đề thường được mô tả trong phần mở đầu/giới thiệu bao gồm:
  • Vì sao dự án nghiên cứu này được tiến hành? (mô tả sự cần thiết của dự án nghiên cứu);
  •  Sau khi hoàn thành, dự án nghiên cứu này có thể đóng góp gì cho thực tiễn cũng như KHPL? (mô tả về khả năng đóng góp cho khoa học cũng như khả năng ứng dụng thực tiễn của dự án);
  • Dự án đã được triển khai như thế nào? (mô tả các hoạt động đã được tiến hành để triển khai dự án);
  • Báo cáo sẽ bao gồm những nội dung gì? (Khái quát về các vấn đề cơ bản sẽ được trình bày trong báo cáo).
Ví dụ: Sự cần thiết trong phần mở đầu của Đề tài cấp Bộ “Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp- Công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng” được viết như sau:
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và cùng với nó là sự gia tăng yêu cầu về bảo vệ người tiêu dùng bằng những công cụ pháp lý hữu hiệu hơn, trong những năm qua, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam đã và đang dành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, những người làm chính sách, các cơ quan truyền thông và toàn xã hội. Luật Bảo vệ người tiêu dùng cũng đang được tích cực soạn thảo để trình Quốc hội.
Trong quá trình hoàn thiện các công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng, chế định trách nhiệm sản phẩm đã ra đời như một sự tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng một cách đầy đủ và hữu hiệu hơn. Chế định pháp luật này được áp dụng đầu tiên ở Hoa Kỳ và sau đó được tiếp nhận bởi các quốc gia ở Châu Âu (ở cấp độ liên minh Châu Âu và quốc gia thuộc liên minh), ở Châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, các quốc gia ASEAN). Tại rất nhiều quốc gia, quy định về trách nhiệm sản phẩm chỉ mới được tiếp nhận, chẳng hạn như Thái Lan mới ban hành Luật về trách nhiệm đối với sản phẩm khuyết tật vào năm 2008. Ngay cả ở quốc gia khai sinh ra luật về trách nhiệm sản phẩm là Hoa Kỳ thì cuộc tranh cãi về chế định pháp luật này vẫn chưa bao giờ kém sôi động. Tuỳ từng quốc gia khác nhau với những quan niệm khác nhau mà trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp được xác định ở một mức độ nhất định và thể hiện phạm vi phải chịu trách nhiệm. Có thể nói, những tranh luận về vấn đề trách nhiệm sản phẩm chính là sự thể hiện một cách rõ rệt nhất mối quan hệ giữa lợi ích của doanh nghiệp, yêu cầu phát triển kinh tế với lợi ích của công chúng, lợi ích của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, dù có bất kỳ cuộc tranh luận nào xung quanh chế định pháp luật này thì vẫn có một sự thừa nhận chung, đó là chế định trách nhiệm sản phẩm là một công cụ pháp lý không thể thiếu để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Với tư cách là một chế định pháp luật tương đối mới trong hệ thống pháp luật trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận của chế định trách nhiệm này, các mô hình trên thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam là việc hết sức cần thiết để góp phần vào hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta.[1]
Thảo luận nhóm:
  • Nội dung trên đây có những thông tin gì có thể làm người đọc quan tâm đến dự án nghiên cứu?
  • Có thể bổ sung những gì vấn đề gì vào nội dung trên để có một phần mở đầu hoàn chỉnh?
    1. Phương pháp nghiên cứu
Một nghiên cứu chỉ được coi là đáng tin cậy nếu có phương pháp nghiên cứu đúng đắn. Do vậy, việc lập báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài cần chú ý đến nội dung này để để thuyết phục người đọc về sự đáng tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu bao gồm hai nội dung chính là phương pháp luận và phương pháp, trong đó:
  • Phương pháp luận:đưa ra cơ sở lý luận cho các phương pháp được áp dụng để triển khai dự án nghiên cứu.
Ví dụ: Khi nghiên cứu về hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam, đánh giá của các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán là một trong những thông số quan trọng phản ánh cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm có hiệu quả hay không. Do vậy, việc khảo sát lấy ý kiến đánh giá các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán (bao gồm: nhà đầu tư, đại diện công ty chứng khoán, đại diện trung tâm/sở giao dịch chứng khoán) và các cơ quan nhà nước (cơ quan thanh tra và xử lý vi phạm, toà án) và chủ thể liên quan (luật sư tư vấn trong lĩnh vực chứng khoán) là thích hợp cho dự án nghiên cứu này.[2]
  • Phương pháp là các cách thức cụ thể để tiến hành nghiên cứu.
Ví dụ: Trong dự án nghiên cứu nêu trên, nhóm nghiên cứu đã sử dụng khảo sát như một phương pháp nghiên cứu quan trọng. Hoạt động khảo sát được tiến hành theo các cách thức khác nhau đối với các đối tượng khác nhau. Cụ thể, đối với nhà đầu tư, nhóm nghiên cứu sử dụng bảng hỏi để có thể khảo sát ý kiến của một số lượng lớn các nhà đầu tư để đảm bảo tính đại diện.Các nhà đầu tư được lựa chọn một cách ngẫu nhiên tại các sàn giao dịch của một số công ty chứng khoán lớn. Đối với các đối tượng khác, nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu để thu thập thông tin.[3]
  1. Mô tả dữ liệu và phân tích dữ liệu
Đây là phần chiếm dung lượng lớn nhất và là nội dung chính của báo cáo kết quả nghiên cứu.Thông thường sẽ được chia thành nhiều chương.Tuỳ thuộc vào cách đặt vấn đề và phương pháp nghiên cứu của một dự án nghiên cứu và các chương của mỗi báo cáo nghiên cứu được cấu trúc khác nhau.Bất kỳ một cấu trúc nào cũng phải đảm bảo được tính lô gích và sự liên kết giữa các phần.
Một cấu trúc chungcủa phần mô tả và phân tích dữ liệu bao gồm các chương, phần, mục, tiểu mục, đoạn, câu. Có thể hình dung cấu trúc này theo mô hình bậc thang như sau: 
 
Để đảm bảo tính logic và liên kết cho toàn bộ phần mô tả và phân tích dữ liệu, các chương cần được liên hệ với nhau theo kiểu tiếp nối hoặc song song về nội dung. Yêu cầu tương tự cũng được áp dụng đối với các phần trong chương, các mục trong phần, tiểu mục trong mục, đoạn trong mục và câu trong đoạn.
Ví dụ 1: Liên kết giữa các câu trong một đoạn
Đối với những nhược điểm của truyền thống, cách xử lý tốt nhất không phải chỉ là loại bỏ mà vẫn có thể khai thác vì sự phát triển trong xã hội hiện đại. Chúng ta vẫn có thể khai  thác theo hướng tốt thói quen sống trọng lệ hơn luật của người Việt cổ truyền. Xã hội Việt Nam là một xã hội nông nghiệp. Phong tục, tập quán, đạo đức, hương ước, luật tục... đang hàng ngày hành giờ giữ gìn sự ổn định và tạo điều kiện cho sự phát triển của nông thôn Việt Nam. ít nhất là trong thời gian tới, đây vẫn là các định chế phi quan phương thiết yếu đối với xã hội Việt Nam. Cho nên cũng không nên cứng nhắc theo nguyên tắc về sự ngự trị của pháp luật trong các lĩnh vực sinh hoạt của công dân mà vô hiệu hoá khả năng điều chỉnh xã hội của các định chế phi quan phương. Trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay cần kết hợp pháp luật và các định chế phi quan phường với mức độ, phạm vi phù hợp với đặc điểm của xã hội Việt Nam. Thói quen sống trọng lệ hơn luật phản ánh lối sống trọng tình cảm của người Việt. Vì vậy, đối với những lĩnh vực quan hệ xã hội mang tính tình cảm tế nhị nên để cho các định chế phi quan phương điều chỉnh, pháp luật chỉ nên xác lập những khuôn khổ ở tầm vĩ mô.[4]
Thảo luận nhóm:
  • Logic trong đoạn trên là gì?
-
Ví dụ 2: Cấu trúc phần mô tả và phân tích dữ liệu của Đề tài Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo lồng ghép các yêu cầu phát triển bền vững trong các dự án đầu tư.[5]
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LỒNG GHÉP YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
I. Dự án đầu tư và mối quan hệ giữa phát triển bền vững với các dự án đầu tư
1.1 Các khái niệm cơ bản về đầu tư, dự án đầu tư, phát triển và mối liên hệ giữa các khái niệm này
1.2. Phát triển bền vững và mối liên hệ giữa dự án đầu tư với việc đảm bảo các yêu cầu phát triển bền vững
1.2.1. Khái niệm về phát triển bền vững và các khía cạnh của phát triển bền vững
1.2.1. Vai trò của các dự án đầu tư với việc đảm bảo các yêu cầu về phát triển bền vững
II. Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo các lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
2.1. Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
2.2. Yêu cầu đối với pháp luật nhằm đảm bảo lồng ghép các khía cạnh về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
2.2.1 Đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế
2.2.2. Đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt xã hội
2.2.3. Đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt môi trường
CHƯƠNG II
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC SỬ DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
I. Tổng quan kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng pháp luật để quản lý các dự án đầu tư theo yêu cầu phát triển bền vững
II. Kết quả nghiên cứu kinh nghiệmcủa một số nước trong việc sử dụng pháp luật để quản lý các dự án đầu tư theo yêu cầu phát triển bền vững
2.1. Singapore
2.2. Trung Quốc
 
CHƯƠNG III
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO LỒNG GHÉP CÁC YÊU CẦU VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
I. Đánh giá các quy định hiện hành trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư
II. Đánh giá vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo lồng ghép các yêu cầu về phát triển bền vững trong các dự án đầu tư thông qua một số dự án đầu tư cụ thể
Thảo luận nhóm:
-Logic của các chương trong cấu trúc nêu trên là gì? Các chương kết nối với nhau như thế nào (liên hệ tiếp nối hay song song).
-Logic của chương 1 là gì? Các phần trong chương này kết nối với nhau như thế nào?
-Logic của phần II trong Chương 1 là gì? Các mục, tiểu mục trong phần này kết nối với nhau như thế nào?
-Gợi ý phát triển các mục và tiểu mục cho Chương 3 trong ví dụ nêu trên.
  1. Kết luận
Kết luận là phần tóm tắt lại toàn bộ kết quả của dự án nghiên cứu và khẳng định giá trị cũng như đóng góp của dự án nghiên cứu. Một dự án nghiên cứu hoàn tất cũng có thể gợi mở cho các nghiên cứu tiếp theo. Kết luận của một dự án nghiên cứu, do vậy, cần bao gồm những nội dung cơ bản sau:
  • Mục tiêu để tiến hành dự án;
  • Tóm tắt các dữ liệu chính mà dự án có được để phục vụ mục tiêu nghiên cứu;
  • Các kết luận chính thu được từ việc phân tích dữ liệu;
  • Mức độ mà các kết luận này đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của dự án;
  • Hạn chế của dự án;
  • Kiến nghị về sử dụng kết quả của dự án và các hướng nghiên cứu tiếp tục từ kết quả của dự án
    1. Một số vấn đề lưu ý khác:
  • Xác định trọng tâm: Khi lập báo cáo kết quả nghiên cứu, nhà nghiên cứu cần lưu ý xác định trọng tâm cho báo cáo của mình. Việc xác định trọng tâm vừa giúp nhà nghiên cứu không sa đà vào các dữ liệu ít liên quan, vừa giúp người đọc tập trung vào các vấn đề chính mà dự án muốn chuyển tải. Trọng tâm của một báo cáo thường được thể hiện trong các nhan đề (heading) và trong một đến hai câu nhấn của mỗi phần/mục/tiểu mục/đoạn.
  • Nhắc lại: đối với một báo cáo nghiên cứu KHPL, do các nội dung phức tạp và chủ yếu được chuyển tải bằng ngôn ngữ nhiều hơn là hình ảnh và con số, đôi khi việc lặp lại một số nội dung để gợi nhớ cho người đọc là cần thiết. Tuy nhiên, vì chỉ mang tính gợi nhớ nên việc nhắc lại này phải hết sức ngắn gọn và cần nói rõ vấn đề đã từng được nêu ở phần nào trước đó.
TS. Trần Thị Quang Hồng
Trưởng ban nghiên cứu Pháp luật dân sự-kinh tế, Viện Khoa học pháp lý

 

[1]Đề tài cấp bộ của Viện Khoa học pháp lý do GS. TS. Lê Hồng Hạnh chủ nhiệm, Thư ký: Ths. Trần Thị Quang Hồng, nghiệm thu năm 2010.
[2]Tham khảo Đề tài cấp Bộ của Viện Khoa học pháp lý: Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam do TS. Đinh Thị Mai Phương chủ nhiệm, Thư ký: Ths. Trần Thị Quang Hồng, nghiệm thu năm 2011.
[3]Tham khảo Đề tài nói trên.
[4]Trích Đề tài cấp Nhà nước của Viện Khoa học pháp lý: Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội do TS. Dương Thị Thanh Mai chủ trì, nghiệm thu năm 2010.
[5] Tham khảo Đề tài cấp Bộ của Viện Khoa học pháp lý, nghiệm thu năm 2012.