Chủ trương hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) của Đảng: Những điểm mới cơ bản nhìn từ góc độ pháp lý
Sign In

Diễn đàn nghiên cứu trao đổi

Chủ trương hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) của Đảng: Những điểm mới cơ bản nhìn từ góc độ pháp lý

Ngày 3/6/2017, Nghị quyết số 11-NQ/TW của Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành trung ương Đảng Khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đã chính thức được ban hành cùng với 2 Nghị quyết quan trọng khác là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Nghiên cứu Nghị quyết số 11-NQ/TW, từ góc độ pháp lý, có thể thấy những điểm mới căn bản đáng chú ý sau đây:

1. Nhận thức mới về tầm quan trọng của thể chế và chất lượng thể chế trong phát triển

Với quan niệm thể chế có chất lượng có thể trở thành một động lực để phát triển, trong quan điểm chỉ đạo việc xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng ta quan niệm “xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững”. Đây cũng là “nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài”.

Việc xác định xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nhiệm vụ chiến lược hàm ý, đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, nếu thực hiện tốt, sẽ có vai trò làm xoay chuyển cục diện phát triển, đưa nước ta từ tình trạng có những mặt đang ở nguy cơ tụt hậu trở thành quốc gia có tốc độ phát triển nhanh, vượt qua được bẫy thu nhập trung bình, vươn lên trở thành quốc gia các thu nhập cao, dựa trên trình độ công nghệ hiện đại.Với tinh thần đó, cải thiện chất lượng thể chế kinh tế được xem là đột phá khẩu, góp phần tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững. Muốn cải thiện chất lượng thể chế, điều đầu tiên cần làm là cải thiện chất lượng pháp luật. Chính vì thế, Nghị quyết chủ trương “nghiên cứu, rà soát, đổi mới việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, tính nhất quán, ổn định và dự đoán được của pháp luật.”

2.Đề cao việc tôn trọng quy luật khách quan,tôn trọng các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế

Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu tôn trọng quy luật khách quan của kinh tế thị trường,trong đó, phải kể tới quy luật cạnh tranh, coi cạnh tranh như một động lực thúc đẩy sự đổi mới, sáng tạo, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Nghị quyết chủ trương “thực hiện nhất quán một chế độ pháp lý kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt hình thức sở hữu, thành phần kinh tế. Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật.”“Hoàn thiện thể chế về cạnh tranh; tăng cường tính minh bạch về độc quyền nhà nước. Xoá bỏ các cơ chế can thiệp hành chính trực tiếp, bao cấp của Nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.”

Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu tôn trọng thông lệ quốc tế, thông lệ phổ biến của các nền kinh tế thị trường phù hợp với bối cảnh Việt Nam đã chuyển đổi khá thành công sang nền kinh tế thị trường mang tính hội nhập cao với nền kinh tế thế giới với việc tham gia nhiều chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Nghị quyết khẳng định nền kinh tế mà nước ta xây dựng là “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường” và là“nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế”.Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế ở nước ta thể hiện ở chỗ “kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn hơn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế phổ biến”.

Nghị quyết đặt ra mục tiêu “Phấn đấu hoàn thiện một bước đồng bộ hơn hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế. Cơ bản bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững. Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.”

Yêu cầu tôn trọng quy luật khách quan trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hàm ý nhấn mạnh việc bảo đảm tính khả thi, sát thực tiễn trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật. Thực tế cũng cho thấy, chỉ khi công tác xây dựng pháp luật xuất phát từ thực tiễn, phản ánh đúng và phúc đáp trúng nhu cầu phát triển của thực tiễn cuộc sống, tôn trọng quy luật khách quan, không dựa vào mong muốn chủ quan, duy ý chí thì pháp luật mới thực sự thúc đẩy quá trình phát triển bền vững của đất nước.

Việc tôn trọng quy luật khách quan của kinh tế thị trường, tôn trọng các chuẩn mực phổ biến của nền kinh tế thị trường còn thể hiện tinh thần “đề cao tính hiệu quả trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế” thể hiện trong Nghị quyết số 11-NQ/TW. Thực tế đã chứng minh rằng, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung không có tương lai trong điều kiện hòa bình xây dựng đất nước bởi tính phi hiệu quả của mô hình kinh tế này. Một trong những lý do thúc đẩy các quốc gia áp dụng mô hình kinh tế thị trường thay thế cho mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung chính làsự ưu việt về tính hiệu quả trong phân bổ và sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế thị trường.Nhận thức rõ vấn đề có tính nguyên lý đó, mục tiêu của việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN với tầm nhìn từ nay tới 2030 theo Nghị quyết số 11-NQ/TW đặc biệt đề cao yêu cầu sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để thúc đẩy đất nước phát triển. Theo đó, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhằm “tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; góp phần huy động và phân bổ, sử dụng hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Trong nền kinh tế mà nước ta đang xây dựng, “thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất”. Trong khi đó, Nhà nước đóng vai trò “định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ tài nguyên, môi trường; phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội”.

Khi đề cao tính hiệu quả của cơ chế kinh tế, điều dễ hiểu là các quy tắc pháp lý đi kèm để cơ chế kinh tế ấy có thể vận hành phải là các quy tắc pháp lý khuyến khích sự phân bổ hiệu quả nguồn lực trong xã hội. Các quy tắc dung dưỡng tình trạng sử dụng lãng phí nguồn lực dù ở khu vực công hay khu vực tư đều cần sớm được phát hiện và loại bỏ.
 
3. Xác định đúng đắn hơn vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế, nhất là với kinh tế tư nhân

Một trong những điểm mới quan trọng vào bậc nhất của Nghị quyết trung ương 5 về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là việc xác định đúng đắn hơn vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế đặt trong mối quan hệ qua lại với nhau. Theo đó, “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế”, đặc biệt “kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ”. “Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại, năng lực quản trị tiên tiến.”

Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn đặt ra mục tiêu “Chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh trong khu vực kinh tế tư nhân. Phấn đấu đến năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp; đến năm 2025 có hơn 1,5 triệu doanh nghiệp và đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp.”Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đến năm 2020 đạt khoảng 50%, năm 2025 khoảng 55%, đến năm 2030 khoảng 60 - 65%”. Điều đó càng cho thấy kinh tế tư nhân ngày càng được thừa nhận vai trò cần có trong nền kinh tế nước ta.Sự định vị đúng đắn hơn vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế cho thấy bước phát triển vượt bậc trong tư duy của Đảng ta về phát triển kinh tế, đặc biệt khi chúng ta so sánh với giai đoạn trước Đổi mới, khi kinh tế tư nhân đã có lúc bị xem như là “vấn đề” của quá trình phát triển chứ không phải là “giải pháp” cho quá trình phát triển.

Thêm vào đó, Nghị quyết số 11-NQ/TW chủ trương “tiếp tục hoàn thiện thể chế cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế về quản trị doanh nghiệp; thực sự hoạt động theo cơ chế thị trường.” “Tăng cường quản lý, giám sát, kiểm tra đối với hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước.” “Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy đủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập về phạm vi hoạt động, tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và tài chính gắn với cơ chế đánh giá độc lập.”

4. Đề cao yêu cầu bảo hộ và thực thi quyền tài sản, quyền sở hữu, nhất là sở hữu trí tuệ

Nghị quyết yêu cầu “bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt; bảo đảm hiệu lực thực thi và bảo vệ có hiệu quả quyền sở hữu tài sản.”“Tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích tụ, tập trung ruộng đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn và nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn, công nghệ cao, gắn với bảo đảm việc làm và thu nhập bền vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn.”“Hoàn thiện các quy định về đăng ký và giao dịch tài sản; phát triển hệ thống đăng ký minh bạch, liên thông, dễ tiếp cận, nhất là bất động sản.”

Nghị quyết chủ trương “hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ theo hướng khuyến khích sáng tạo, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy cao; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ và thực thi hiệu quả”. “Đổi mới, phát triển mạnh mẽ và đồng bộ thị trường khoa học-công nghệ. Tăng cường bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ…Tập trung nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp”.Trong bối cảnh nước ta còn “nhập siêu” về tri thức và công nghệ như hiện nay, việc đề cao yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có thể xem là một quyết tâm chính trị lớn của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên, một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ yếu kém cũng là rào cản cho những nỗ lực đổi mới, sáng tạo của nền kinh tế. Chúng ta sẽ mãi mãi nằm trong tầng nấc rất thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu nếu nền kinh tế của chúng ta chỉ dựa trên hoạt động gia công và xuất khẩu nguyên liệu thô, thiếu hẳn quá trình đổi mới, sáng tạo, nhất là thiếu hụt năng lực nội sinh trong đổi mới, sáng tạo. Chính vì thế, việc đề cao công tác bảo hộ sở hữu trí tuệ, để “khuyến khích sáng tạo” là quyết sách đúng đắn của Đảng, thể hiện quyết tâm tiến cùng xu thế phát triển chung của thời đại.

5. Đề cao yêu cầu vận hành đồng bộ, thông suốt của các thị trường trong nền kinh tế

Nghị quyết đề ra những định hướng khá cụ thể trong việc phát triển từng loại thị trường quan trọng trong nền kinh tế bao gồm thị trường các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất (như thị trường vốn, lao động, quyền sử dụng đất, khoa học và công nghệ v.v.), đồng thời đề cao yêu cầu bảo đảm tính cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế. Nghị quyết cũng đề ra định hướng tháo gỡ những “nút thắt” trong việc bảo đảm tính đồng bộ và thông suốt của một số thị trường cụ thể. Chẳng hạn, với thị trường quyền sử dụng đất, Nghị quyết chủ trương “cải cách mạnh mẽ chính sách tài chính về đất đai theo hướng đơn giản, ổn định, công khai, minh bạch và công bằng. Nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về thuế tài sản, nhất là về đất đai, bất động sản. Bảo đảm minh bạch thông tin về thị trường quyền sử dụng đất.” Với thị trường tín dụng, tiền tệ, Nghị quyết chủ trương “tăng tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ.” Với thị trường lao động, Nghị quyết chủ trương “phát triển đồng bộ, liên thông thị trường lao động cả về quy mô, chất lượng lao động và cơ cấu ngành nghề… Minh bạch thông tin thị trường lao động”.

Nghị quyết cũng chủ trương “Xây dựng thể chế liên kết vùng, hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế vùng trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương; ưu tiên phát triển các vùng kinh tế động lực, đồng thời có chính sách hỗ trợ các vùng còn nhiều khó khăn; xây dựng một số đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy thuộc hệ thống chính trị. Sớm xây dựng mô hình điều phối liên kết vùng, xác định rõ địa phương đầu tàu và nhiệm vụ của từng địa phương trong vùng.”

6. Đề cao công tác tổ chức thi hành pháp luật

Trong quá trình tổng kết phục vụ xây dựng các Nghị quyết của Hội nghị trung ương 5 (Khóa XII), một trong những điểm hạn chế được các chuyên gia và cấp có thẩm quyền nhấn mạnh là việc tổ chức thi hành pháp luật không nghiêm. Đi kèm với đó là những méo mó trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật. Điều đó làm cho những chủ trương đúng đắn trong quy định pháp luật không phát huy được tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển đất nước.

Chính vì thế, yêu cầu bức thiết của thực tiễn đang đặt ra là phải đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện pháp luật, thu hẹp được khoảng cách giữa quy định của pháp luật trên giấy và thực tiễn thực thi.

Phúc đáp yêu cầu này, Nghị quyết số 11-NQ/TW chủ trương “Nhà nước tập trung … xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật; tăng cường sự phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp; bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; khắc phục mặt trái của thị trường; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh…Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và thực thi pháp luật.”

Nghị quyết cũng chủ trương “Đẩy mạnh cải cách tư pháp. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, trọng tâm là các hoạt động hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án nhân dân các cấp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về kinh tế. Tăng cường tính độc lập của hệ thống tư pháp các cấp trong xét xử, thi hành án dân sự, kinh tế. Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh.”

Nghị quyết cũng xác định trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, các cấp ủy Đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước, đặc biệt là năng lực, hiệu quả … tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước”.
 
*
*                                     *
*

Có thể nói, Nghị quyết số 11-NQ/TW chứa đựng những quan điểm, chủ trương, giải pháp quan trọng mang tính chiến lược. Việc sớm thể chế hóa, đưa các quan điểm, chủ trương và giải pháp nêu trong Nghị quyết vào thực tiễn đời sống có thể tạo thêm cú hích mới cho đà hồi phục kinh tế ở nước ta hiện nay. Việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW và các Nghị quyết có liên quan cũng mở ra cơ hội để những người làm công tác xây dựng và thực thi pháp luật đóng góp thiết thực cho sự phát triển chung của đất nước trong giai đoạn tới.

TS. Nguyễn Văn Cương
Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)