Hai bài học lớn của vua Lê Thái Tổ
Sign In

Diễn đàn nghiên cứu trao đổi

Hai bài học lớn của vua Lê Thái Tổ

Triều đại Hậu Lê có thời gian tồn tại dài nhất: 356 năm (1428-1789), với 26 đời vua, so với các triều đại phong kiến khác của Việt Nam. Đây hoàn toàn không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Đây là sự kiện tất yếu. Với 10 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa và 5 năm ngồi ở ngôi vua, Lê Thái Tổ - Lê Lợi, đã để lại cho hậu thế hai bài học lớn về bảo vệ sự trường tồn và phát triển của các dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp vẻ vang của vua Lê Lợi được lưu danh muôn thuở với hai bài học lớn: Cách ông phát động và tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ để giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước và cách ông chấm dứt chiến tranh để kiến tạo một nền hòa bình lâu dài với nước lớn luôn có âm mưu thôn tính Việt Nam.

1. Cách tiến hành chiến tranh của vua Lê Lợi

Trong cuộc kháng chiến 10 năm giành lại độc lập cho đất nước, vua Lê Lợi đã để lại cho hậu thế bài học vô cùng quý báu là cách đấu tranh để bảo vệ nền độc lập của một nước nhỏ chống lại dã tâm xâm lược của nước lớn. Đó là cách xây dựng sức mạnh toàn dân, xây dựng tình nghĩa cha con, anh em ruột thịt trong quân đội:

       “Khi Linh sơn lương hết mấy tuần

       Lúc Khôi huyện quân không một đội
       ………
       Ta gắng trí khắc phục gian nan
       Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phâp phới
       Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào…”(2)
Về cách đánh thì ông biết sử dụng phương châm lấy ít địch nhiều, lấy yếu đánh mạnh, lấy thô sơ chọi hiện đại, lấy nhân nghĩa chống bạo tàn:

       “Thế trận xuất kỳ lấy yếu đánh mạnh
       Dùng quân mai phục lấy ít đánh nhiều…(3)
 
Khoa học quân sự ngày nay gọi đó là cách dùng chiến tranh phi đối xứng chống lại chiến tranh kinh điển.

Những bài học của vua Lê Lợi để lại đã được nhân dân ta tiếp thu và vận dụng rất sáng tạo nên đã giành được thắng lợi hoàn toàn trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ là những đội quân xâm lược mạnh nhất thế giới vào nữa thế kỷ sau của thế kỷ XX.

Việt Nam hiện là một trong số ít nước có nền chính trị, xã hội ổn định trên thế giới. Tuy vậy, Việt Nam đang đứng trước những nguy cơ hiện hữu bị nước có tiềm lực và thực lực quốc phòng quân sự rất lớn xâm lược. Đảng và Nhà nước Việt Nam đang chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội. Nhưng việc hiện đại hóa quân đội nhân dân Việt Nam không có nghĩa là Việt Nam chạy đua vũ trang. Việc hiện đại hóa quân đội Việt Nam là nhằm mục đích làm cho năng lực tác chiến của chiển tranh phi đối xứng phù hợp với đòi hỏi của chiến tranh hiện đại.

Các nhà nghiên cứu nước ngoài có nhận xét rằng Việt Nam là bậc thầy về chiến tranh phi đối xứng. Hơn nữa chiến tranh phi đối xứng của Việt Nam là chiến tranh chính nghĩa nên tác động của nó được nhân lên gấp bội lần. Quả đúng vậy. Lịch sử các cuộc chiến tranh của Việt Nam chống lại quân xâm lược nước ngoài đều là những cuộc chiến tranh phi đối xứng.Với cách vận dụng chiến tranh phi đối xứng một cách sáng tạo lại mang đậm tính chính nghĩa nên đã phát huy được sức mạnh của toàn dân trong chiến tranh chống xâm lược, Việt Nam tuy là nước nhỏ nhưng chắc chắn sẻ đánh bại được kẻ xâm lược nước ngoài có thực lực quân sự, kinh tế, công nghệ khoa học lớn hơn gấp nhiều lần.

2. Cách kết thúc chiến tranh mang đậm tính nhân văn của vua Lê Lợi:

Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Mùi, tức ngày 10 tháng 12 năm 1427, tại bờ Nam sông Nhị Hà, còn được gọi là Sông Cái, Hồng Hà, đối diện với thành Đông Quan (Hà Nội) có hai đội quân cựu thù tử chiến chống nhau trong 10 năm trời, nay cùng nhau mở hội thề cam kết chấm dứt chiến tranh, vãn hồi mối bang giao bình thường giữa hai vương quốc Trung Quốc và Đại Việt.

Đại diện cho đội quân xâm lược bại trận nhà Minh là Vương Thông và quan lại, binh sĩ trong thành Đông Quan trên 10 vạn người cùng với vũ khí, ngựa xe, cờ lọng xếp thành nhiều khối đứng riêng một phía. Đối diện là nghĩa quân Lam Sơn dưới sự thống lĩnh của vua Lê Lợi cùng với toàn thể quan binh trong trang phục uy nghiêm, vũ khí sáng lòe, ngựa voi đông đúc, cờ xí rợp trời, xếp thành những khối đứng ở phía đối diện. Đúng Ngọ! ba hồi trống trầm hùng vang dội núi sông cùng với ba hồi chiêng chấn động không trung vang lên báo hiệu Hội thề bắt đầu. Từ trên bệ cao, nơi tướng lĩnh của hai bên cùng tiến hành lễ hội, lời thề dõng dạc, thư thả được đọc lên:

“Tôi là Đại đầu mục nước Đại Việt tên là Lê (Lợi) và bọn Trần Văn Hãn, Lê  Nhân Chú, Lê Vấn, Trần Ngân, Trần Văn Xảo, Trần Bị, Trịnh Khả, Nguyễn Chích, Trần Lý, Phạm Bôi, Trần Văn An, Bế Khắc Thiệu, Ma Luân cùng với quan tổng binh của Thiên triều là thái tử thái bảo Thành Sơn hầu tên là Vương Thông và các quan tham tướng hữu đô đốc là Mã Anh, Thái giám là Sơn Thọ, Mã Kỳ, Vinh xương bá là Trần Trí, Yên bình bá là Lý An, đô đốc là Phương Chính, Chương đô ti sự Đô đốc Thiêm sự là Thuế Lự, đô đốc thiêm sự là Trần Hựu, giám sát ngự sử là Châu Kỳ Hậu, Cấp sự trung là Quách Vĩnh Thanh, bố chính là Dặc Kiêm, tả tham chính là Thanh Quảng Bình, hữu tham chính là Hồng Thừa Lương, hữu tham nghị là Lục Trinh, Án sát sứ là Dương Thời Tập, thiêm sự là Quách Hội

Kính cáo Hoàng thiên (trời), Hậu thổ (Đất) cùng với Danh sơn (núi), Đại xuyên (Sông) và thần kỳ các xứ:

Chúng tôi cùng nhau phát tự lòng thành, ước hẹn thề thốt với nhau:

Từ sau khi lập lời thề này, quan Tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông quả tự lòng thành, đúng theo lời bàn, đem quân về nước, không thể kéo dài năm tháng, để đợi viện binh đến nơi. Lại phải theo đúng sự lý trong bản tâu, đúng lời bán trước mà làm.

Bọn Lê (Lợi) chúng tôi nếu còn chứa giữ lòng làm hại, tự làm việc lừa dối, không dẹp xa ngay quân lính ngựa voi, việc làm không đúng lời nói ngầm sai… Các việc nói trên tuy là không tự mình làm lấy, lại chuyển sang người khác có xâm phạm đến một chút nào tức thì Trời, Đất, thần minh, núi cao sông lớn, cho đến thần kỳ các xứ, tôi cùng con cháu thân của tôi, và người cả một nước tôi, giết chết hết cả, không để sót lại mống nào.

Về phía bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, nếu không có lòng thực, lại tự trái lời thề (đối với việc) người phục dịch và các thuyền đã định rồi, cầu đập đường sá đã sửa rồi, mà không làm theo lời bàn, lập tức đem quân về nước, còn kéo dài năm tháng để đợi viên binh, cùng là ngày về đến triều đình lại không theo sự lý trong bản tâu, không sợ thần linh núi sông ở nước An-nam lại bàn khác đi, hoặc cho quan quân đi qua đâu cướp bóc nhân dân, thì Trời, Đất cùng là Danh sơn, Đại Xuyên và thần kỳ các xứ tất đem bọn quan tổng binh Thành sơn hầu là Vương Thông, tự bản thân cho đến cả nhà, thân thích, làm cho chết hết, và cả đến quan quân cũng không một người nào về được đến nhà.

Nếu mà cả hai bên đều do lòng thành cả thì Trời Đất thần minh đều phù hộ cho đến bản thân mình mạnh khỏe, trong nhà mình vinh thịnh, cùng hưởng lộc vị, đều được bình yên.

Trời, Đất thần kì cùng soi xét cho!”[1]

Tổng binh Thành Sơn hầu là Vương Thông, đại diện cho phía quân Minh và Bình Định Vương Lê Lợi, thay mặt cho nghĩa quân Đại Việt, trước mặt hàng chục vạn quân của hai bên, cùng cạn bát rượu pha máu cam kết giữ trọn lời thề đã được xướng lên. Tù binh, ngựa, vũ khí, cờ hiệu, ấn tính của quân Minh bị nghĩa quân Đại Việt bắt giữ trong các trận đánh đều trao trả lại cho họ. Các đạo quân đều được cấp lương thực đủ cho đến khi về đến nước. Quân rút theo đường bộ thì được cấp thêm ngựa, quân rút theo đường thủy thì được cấp thuyền. Trước khi dẫn quân về nước, tướng lĩnh các cánh quân đều tự mình đến dinh Bồ Đề, nơi đặt Đại bản doanh của nghĩa quân Đại Việt bái yết Lê Lợi và tỏ lòng cám ơn sâu lắng lòng khoan dung độ lượng của quan, dân người Việt đối với họ. Riêng Tổng binh Vương Thông, người cầm đầu đạo quân rút về nước sau cùng, trước khi lên đường, đã tự mình đến dinh Bồ Đề ngồi hàn huyên suốt đêm với Bình Định Vương Lê Lợi. Cuộc chia tay giữa hai cựu thù diễn ra trong không khí lưu luyến như không muốn xa rời nhau.

Ngoài việc cấp lương thực, phương tiện cho bại quân Vương Thông về nước, Lê Lợi còn phái sứ giả mang theo các vật phẩm sang cống vua Minh gồm hai pho tượng người bằng vàng và bạc, mỗi bức nặng 100 lạng (với hàm ý đền mạng cho Liễu Thăng, kẻ đã bị chém tại ải Chi Lăng khi dẫn quân vào giải vây cho Vương Thông tại Đông quan). Về sản vật địa phương có: Bình bạc cắm hương 1 cỗ, bình bạc cắm hoa một đôi, cộng nặng 300 cân. Lụa thổ sản 300 tấm, ngà voi 10 chiếc, hương xông áo 20 bánh, cộng 130 cân, hương nén 20.000 nén, trầm hương, tốc hương 24 khối.

Lê Lợi, Nguyễn Trãi, đã gặp không ít khó khăn với tướng lĩnh dưới quyền và nhân dân cả nước khi chủ trương tha mạng cho những kẻ đã gây ra muôn vàn tội ác đối với xứ sở Việt Nam. Khi đã bị vây chặt trong thành Đông Quan, Vương Thông vẫn chưa chịu đầu hàng. Ông ta còn ra lệnh đào thêm hào, đắp thêm lũy, dùng dằng kéo dài thời gian cốt để trông chờ viện binh từ bên nước sang. Mãi đến khi biết tin hai đạo viện binh bị đánh tan tác tại biên giới, Liễu Thăng bị chém tại ải Chi Lăng, Mộc Thạnh xiêu hồn bạt vía rút chạy, Vương Thông mới chịu dâng thư cầu hoà với Lê Lợi.

Mười vạn quân Minh đang bị vây chặt trong thành Đông Quan. Số phận của chúng như cá nằm trên thớt, trứng để dưới đe, thú nằm trong rọ. Các tướng lĩnh nghĩa quân đều đồng lòng tâu vua xin cho đánh để diệt sạch kẻ địch cho hả cơn giận chất chứa sâu trong lòng người dân Việt trong 20 năm
 
Bình Định Vương Lê Lợi đã dùng những lời tâm huyết để khuyên giải quan binh dưới quyền rằng: “Việc dùng binh lấy sự toàn quân là hơn cả. Nay hãy để cho lũ Vương Thông về nói với vua Minh, trả lại đất cho nước ta, không còn trở lại xâm lấn, thì ta còn cầu gì hơn nữa, hà tất phải giết hết, để kết mối thù với nước lớn”.

Và đúng như mong đợi, hai bên đã thực hiện đúng lời thề bên bờ sông Nhị. Quân dân Đại Việt đã để cho 10 vạn quân Minh rút về nước an toàn. Các cánh quân Minh đều nhanh chóng rút về nước theo thời gian, lộ trình đã định. Trên đường rút quân, không một vụ cướp bóc nào của quân Minh xảy ra đối với dân Việt. Rõ ràng tấm lòng nhân ái, cao thượng, phẩm chất nhân văn cao đẹp của các dân tộc Việt Nam mà người đại diện tiêu biểu đương thời là Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã cảm hóa được kẻ thù hung ác quen thói cậy thế nước lớn gây chiến cướp bóc đất đai, tài sản, giết hại lương dân nước nhỏ.

Sau khi đuổi sạch quân xâm lược ra khỏi đất nước, Lê Lợi làm lễ lên ngôi vua, tự xưng là Hoàng đế, bãi bỏ tên “Giao chỉ” mà các triều đại phong kiến Trung quốc dùng để gọi người Việt. Ông cho lập lại quốc hiệu “Đại Việt” do vua Lý Thánh Tông đặt ra từ thế kỷ thứ X. Không thể làm gì hơn, vua Minh Tuyên Tông buộc phải công nhận và sắc phong Lê Lợi là An-nam Quốc vương.

Triều đại nhà hậu Lê bắt đầu từ Lê Lợi được truyền nối qua nhiều đời vua, trải dài 366 năm (1428-1788). Cũng trong thời gian 366 năm ấy, không vị vua kế vị nào của nhà Minh động binh xâm lược Việt Nam lần nữa. Trong lịch sử của Việt Nam hiếm có khoảng thời gian nào mà các dân tộc Việt Nam, không phải đối phó với giặc ngoại xâm trong thời gian lâu như vậy.  Hội thề bên bờ sông Nhị vào ngày 10 tháng 12 năm 1427 giữa quân xâm lược nhà Minh với nghĩa quân Đại Việt được lưu vào lịch sử với tên gọi Hội thề Đông Quan. Đây là cách kết thúc chiến tranh mang đậm tính nhân văn của Việt Nam chưa hề có trong lịch sử các cuộc chiến tranh trên thế giới. Hội thề Đông Quan đã thắp sáng ngọn cờ nhân nghĩa của các dân tộc Việt Nam. Cách hành xử của vua quan Việt Nam đã làm cho nước lớn phải kiêng dè, nước nhỏ nể phục. Việt Nam là nước nhỏ nhưng không dễ khuất phục. Đã 590 năm trôi qua, kể từ khi có hội thề Đông Quan (1427-2018). Gần 6 thế kỷ đã đi dần vào dĩ vãng, nhưng những gì mà Hội thề Đông Quan để lại vẫn là những bài học mang tính thời sự nóng hổi đối với hiện tình Việt Nam.

Nhân dân mong muốn rằng lời thề Đông Quan cần được khắc vào bia đá, trên các bản đồng và dựng lên tại những nơi mang dấu ấn lịch sử để cho con cháu người Việt và người Trung Quốc đời đời biết rõ và để cho khách du lịch khắp nơi trên thế giới biết rằng đã có một cách kết thúc chiến tranh đầy tính nhân văn như vậy đã xảy ra tại Việt Nam cách đây gần 600 năm.
 
(1) Trích nguyên văn “Bình Ngô đại cáo”.
[2] [3]Thời gian trị vì của các triều đại phong kiến Việt Nam: Nhà Đinh: 13 năm (968-980); Nhà Tiền Lê: 30 năm (968-980); Nhà Lý: 216 năm (1010-1225); Nhà Trần 175 năm (1225-1400); Nhà Hồ: 7 năm (1400-1407) Nhà Hậu Lê: 356 năm [1428-1789 (Lê sơ: 100 năm, Lê Trung hưng: 256 năm)]; Nhà Nguyễn Tây Sơn: 24 năm (1788-1802); Nhà Nguyễn Gia Long: 143 năm (1802-1945).
Luật sư Lê Đức Tiết