Định hướng xây dựng thành phố thông minh ở Việt Nam
Sign In

Diễn đàn nghiên cứu trao đổi

Định hướng xây dựng thành phố thông minh ở Việt Nam

Thành phố thông minh là một hệ thống hữu cơ tổng thể được kết nối từ nhiều hệ thống thành phần với hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể hành xử thông minh như con người, gồm mạng viễn thông số, hệ thống nhúng thông minh, các cảm biến và phần mềm để nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện chất lượng phục vụ của chính quyền thành phố, giảm tiêu thụ năng lượng, quản lý hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Để hiểu rõ hơn về tình hình nghiên cứu về quản trị thành phố thông minh, xin mời tham khảo bài viết dưới đây của TS. Nguyễn Văn Cương - Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý.

1. Khái niệm “thành phố thông minh” (smart city)
Thành phố thông minh (Smart city) là một khu vực đô thị mà ở đó việc quản lý nguồn lực và tài sản hiện hữu trong thành phố (nhất là hệ thống hạ tầng, hệ thống tiện ích của thành phố) được thực hiện một cách hiệu quả nhờ sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, cùng các công nghệ hiện đại khác để thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu và đưa ra các quyết định có chất lượng cao trong quản trị thành phố. Nói vắt tắt hơn, thành phố thông minh là thành phố được quản trị một cách thông minh dựa trên hệ thống thông tin được tự động hóa, hiện đại hóa. Trên thực tế, để quản trị thành phố thông minh, các chủ thể quản trị thành phố sử dụng hệ thống cảm biến, hệ thống thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu từ các công dân, các thiết bị đang lưu hành trong thành phố, các tài sản, tiện ích của thành phố để phân tích, ra quyết định điều hành hệ thống giao thông, năng lượng, nước, xử lý nước thải, thực thi pháp luật, phòng cháy chữa cháy, trường học, bệnh viện, thư viện và các tiện ích cộng đồng khác.
Thành phố thông minh được cấu thành bởi 3 thành tố chính: công dân thông minhchính quyền thông minh (hoạch định được chính sách thông minh và thực thi chính sách cũng thông minh) và môi trường sinh sống thông minh (không chỉ có hệ thống hạ tầng, tiện ích tiện lợi, xanh, sạch, đẹp, ngăn nắp mà còn phải bền vững). Do thành phố thông minh hiện nay gắn liền với yêu cầu phát triển bền vững nên sẽ có lý khi cho rằng, thành phố thông minh ngày nay nên hiểu là “thành phố thông minh bền vững” (sustainable smart city).
Thành phố thông minh sử dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin truyền thông (ICT), các thiết bị được kết nối với nhau theo nguyên lý của Internet vạn vật (Internet of Things) nhằm tối ưu hóa quá trình vận hành của thành phố, cung ứng hàng hóa, dịch vụ tốt nhất cho công dân, gắn kết giữa chính quyền và người dân.Nhờ ứng dụng công nghệ cao, các công chức của thành phố thông minh có thể tương tác trực tiếp với cộng đồng, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố, theo dõi được những gì đang diễn ra và những diễn biến, trưởng thành, tiến bộ, xu hướng vận động của cả thành phố.Với việc quản trị thành phố theo mô hình thành phố thông minh, nhu cầu của người dân thành phố được đáp ứng tối đa.
Sở dĩ ý tưởng về thành phố thông minh thu hút được sự quan tâm của đông đảo dư luận hiện nay bởi những thách thức về công nghệ, kinh tế và môi trường hiện hữu ở các thành phố đương đại như: tình trạng tăng trưởng dân số quá mức, áp lực về ngân sách công, tình trạng già hóa dân số, ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông, biến đổi khí hậu, tái cấu trúc kinh tế v.v… Chẳng hạn, theo một nghiên cứu được công bố năm 2016, các thành phố ở Châu Âu tiêu thụ khoảng 70% năng lượng của quốc gia. Tình trạng tắc nghẽn giao thông làm thiệt hại kinh tế khoảng 1% GDP.[1] Trong khi đó, tính đến giữa năm 2014, lượng cư dân sống ở đô thị trên toàn cầu đã là 54% (tăng thêm 20% từ mức 34% của năm 1960).[2]
Liên minh châu Âu đã đi đầu trong việc khuyến khích, thúc đẩy xây dựng các thành phố thông minh và đã có có chiến lược riêng về vấn đề này. Các quốc gia khu vực Bắc Mỹ và châu Á cũng rất quan tâm xây dựng các thành phố thông minh. Các ví dụ về những thành phố đang xúc tiến mạnh việc xây dựng thành phố thông minh có thể kể đến gồm: (1) Stockholm; (2) Seoul; (3) New York…
Trong khu vực ASEAN, trong Hội nghị thượng đỉnh các nước ASEAN từ ngày 25-28/4/2018 vừa qua tại Singapore, Lãnh đạo 10 quốc gia ASEAN đã đồng ý thiết lập hệ thống mạng lưới các thành phố thông minh trong khu vực ASEAN (ASEAN Smart Cities Network) theo sáng kiến từ chính phủ Singapore. Theo đó, các thành phố thông minh dự kiến được xây dựng gồm: Jakarta, Makassar, Banyuwangi (Indonesia); Singapore; Bandar Seri Begawan (Brunei); Kuala Lumpur, Johor Bahru, Kota Kinabalu, Kuching (Malaysia); Bangkok, Phuket, Chonburi (Thailand); Manila, Cebu, Davao (Philippines); Hanoi, Ho Chi Minh city, Danang (Vietnam); Phnom Penh, Siem Reap, Battambang (Cambodia); Vientiane, Luang Prabang (Laos); Yangon, Maypyidaw, Mandalay (Myanmar).
Mạng lưới này có mục đích:(1) thúc đẩy sự hợp tác của các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng các thành phố thông minh. Các thành phố thành viên và đại diện quốc gia sẽ có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm tốt, hình thành các kế hoạch cụ thể của mỗi thành phố để trở thành thành phố thông minh trong lộ trình 7 năm 2018-2025 (phù hợp với tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025); (2) kích hoạt các dự án được tài trợ vốn với sự tham gia của các khu vực kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân để hiện thực hóa tầm nhìn về thành phố thông minh; (3) bảo đảm sự tài trợ và hỗ trợ từ phía đối tác của ASEAN cho ý tưởng xây dựng thành phố thông minh (nhất là sự hỗ trợ đến từ World Bank, ADB, Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á - AIIB).
Ở Việt Nam, việc xây dựng các thành phố thông minh được xem là một nội dung quan trọng của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thể hiện ở việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ công nghệ thông tin truyền thông (ICT) và các phương tiện khác thúc đẩy nâng cao sức cạnh tranh, đổi mới, sáng tạo, minh bạch, tinh gọn, hiệu lực hiệu quả quản lý của chính quyền các đô thị, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng và các nguồn lực phát triển, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống đô thị, kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.[3] Trong giai đoạn 2018-2025, Việt Nam ưu tiên xây dựng các nội dung cơ bản sau: Xây dựng và quản lý đô thị thông minh; Cung cấp các tiện ích đô thị thông minh cho các tổ chức, cá nhân trong đô thị với Cơ sở nền tảng là Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và hệ thống hạ tầng ICT trong đó bao gồm cơ sở dữ liệu không gian đô thị thông minh được kết nối liên thông và hệ thống tích hợp hai hệ thống trên.
2. Mục tiêu xây dựngcác thành phố thông minh ở Việt Nam
Việc xây dựng các thành phố thông minh ở Việt Nam được thể hiện trong Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030. Đề án xác định mục tiêu tổng quát phát triển đô thị thông minh ở Việt Nam theo hướng bảo đảm tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, khai thác, phát huy các tiềm năng và lợi thế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực; khai thác tối ưu hiệu quả tài nguyên, con người, nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời đảm bảo tạo điều kiện đối với các tổ chức, cá nhân, người dân tham gia hiệu quả nghiên cứu, đầu tư xây dựng, quản lý phát triển đô thị thông minh; hạn chế các rủi ro và nguy cơ tiềm năng; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và các dịch vụ đô thị; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, hội nhập quốc tế.”[4] Đề án cũng định hướng đến năm 2030 sẽ hình thành mạng lưới và các chuỗi đô thị thông minh ở cả khu vực phía Bắc, miền Trung, phía Nam và đồng bằng sông Cửu Long lấy 4 thành phố là Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ là hạt nhân.
Để đạt được mục tiêu dài hạn này, Đề án đặt ra các mục tiêu cụ thể theo mốc thời gian như sau:
- Từ nay đến 2020 (giai đoạn 1): Tập trung xây dựng nền tảng pháp lý để phát triển đô thị thông minh (trong đó có cả việc phát triển hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về đô thị thông minh, xây dựng và áp dụng Khung tham chiếu ICT phát triển đô thị thông minh v.v.), đồng thời chuẩn bị đầu tư triển khai thí điểm hỗ trợ tối thiểu 3 đô thị phê duyệt Đề án tổng thể về phát triển đô thị thông minh…
- Giai đoạn đến năm 2025: Trên cơ sở tổng kết việc thực hiện thí điểm ở giai đoạn 1, xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý và triển khai áp dụng Khung tham chiếu ICT phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam. Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước sẽ công bố các tiêu chuẩn quốc gia ưu tiên phục vụ cho việc triển khai xây dựng thí điểm các đô thị thông minh, ưu tiên cho các lĩnh vực quản lý đô thị, chiếu sáng, giao thông, cấp thoát nước, thu gom và xử lý rác thải, lưới điện, hệ thống cảnh báo rủi ro thiên tai và hệ thống hạ tầng ICT;Phát triển hạ tầng dữ liệu không gian đô thị, hợp nhất các dữ liệu đất đai, xây dựng và các dữ liệu khác trên nền GIS tại các đô thị thí điểm giai đoạn 1; Thí điểm áp dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong quy hoạch đô thị và hệ thống tra cứu thông tin quy hoạch đô thị tại tối thiểu 3 đô thị từ loại II trở lên;Hỗ trợ ít nhất 6 đô thị/6 vùng kinh tế phê duyệt Đề án tổng thể về phát triển đô thị thông minh và tổ chức triển khai thực hiện các tiện ích đô thị thông minh phục vụ cư dân đô thị; hình thành thí điểm Trung tâm kết nối công dân kết hợp bộ phận 1 cửa; Thí điểm áp dụng cơ chế cấp chứng nhận khu đô thị mới thông minh; 100% các Sở Xây dựng, Sở Thông tin truyền thông, các sở ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các đô thị thí điểm được đào tạo, bồi dưỡng về phát triển đô thị thông minh;Thực hiện các mục tiêu được duyệt của chương trình, dự án ưu tiên thí điểm phát triển đô thị thông minh vùng đồng bằng sông Cửu Long...
Có thể nói, các mục tiêu kể trên thể hiện khát vọng phát triển đô thị ở Việt Nam phù hợp với xu thế chung của thời đại. Mặc dù vậy, để hiện thực hóa được các mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn từ phía người dân và chính quyền đô thị các cấp, và của chính quyền trung ương.
3. Một số giải pháp chủ yếu hiện thực hóa mục tiêu xây dựng thành phố thông minh ở Việt Nam
Có thể nói, để xây dựng thành công thành phố thông minh ở Việt Nam theo tiêu chuẩn hiện đại, hàng loạt giải pháp cần được thực hiện, bao gồm giải pháp về hoàn thiện thể chế, giải pháp về tổ chức thực hiện thể chế (nhất là giải pháp về quy hoạch đô thị, phát triển hạ tầng, truyền thông nâng cao nhận thức, huy động nguồn lực, hợp tác quốc tế để giao lưu học hỏi kinh nghiệm v.v.). Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030 đề cập tới 10 nhóm giải pháp cụ thể như sau:
Thứ nhất, giải pháp về hoàn thiện thể chế:Theo đó, trong thời gian tới, cần rà soát, hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách, định mức kinh tế kỹ thuật và ban hành các hướng dẫn về phát triển đô thị thông minh bền vững. Chẳng hạn: Hình thành thể chế, hành lang pháp lý về quy hoạch, đầu tư, xây dựng, quản lý, giám sát, vận hành đô thị thông minh hướng tới mục tiêu phát triển đô thị tăng trưởng xanh, hiệu quả năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm, ứng phó biến đổi khí hậu, đô thị văn minh, văn hóa, phát triển bền vững; Nghiên cứu, xây dựng các chỉ số chính đánh giá về hiệu quả hoạt động (KPI) cho đô thị thông minh phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và các đặc thù của Việt Nam; Nghiên cứu xây dựng, hướng dẫn áp dụng Khung tham chiếu ICT phát triển đô thị thông minh và thiết lập cơ chế tự đánh giá mức độ phát triển đô thị thông minh theo các chỉ số chính đánh giá về hiệu quả hoạt động KPI; Hướng dẫn ứng dụng ICT trong quản lý cơ sở dữ liệu hạ tầng kỹ thuật đô thị, quản lý trật tự xây dựng, quản lý đất xây dựng đô thị, quản lý cấp thoát nước, thu gom và xử lý rác thải, cây xanh, không gian ngầm,... Nghiên cứu xây dựng, hướng dẫn và thiết lập cơ chế tài chính, cơ chế giám sát, phân giao các trách nhiệm quản lý, thực hiện phát triển đô thị thông minh; Rà soát, nghiên cứu và ban hành hệ thống quy chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật và các hướng dẫn kỹ thuật về phát triển đô thị thông minh để quản lý và áp dụng, đảm bảo kết nối đồng bộ, thống nhất, đảm bảo tính liên thông xuyên suốt về kỹ thuật và cơ sở dữ liệu giữa các hệ thống và lĩnh vực quản lý nhà nước như quy hoạch đô thị, xây dựng, đất đai, giao thông, dân cư. Định hướng đồng bộ hóa với các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế theo từng cấp độ phù hợp với thực tiễn điều kiện phát triển trong nước; Ban hành các quy định về quyền và trách nhiệm bảo mật, đảm bảo an toàn dữ liệu đô thị thông minh.
Thứ hai, giải pháp về nghiên cứu, đổi mới, phát triển công nghệ: thúc đẩy nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu ứng dụng đô thị thông minh bền vững:Đẩy mạnh nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn để cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng và phát triển đô thị thông minh hướng tới các mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững;Thúc đẩy sáng tạo, phát minh, sáng chế và bảo vệ sở hữu trí tuệ liên quan lĩnh vực phát triển đô thị thông minh; Khuyến khích nghiên cứu phát triển các ứng dụng, công nghệ và giải pháp về quy hoạch đô thị thông minh, quản lý đô thị thông minh (quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, giao thông, y tế, giáo dục, hệ thống cảnh báo sớm và các lĩnh vực khác), tiện ích đô thị thông minh phục vụ cho các tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong đô thị; Phát triển các giải pháp thương mại điện tử do các tổ chức và cá nhân thực hiện đi đôi với hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý giao dịch tài chính mới trên môi trường mạng.
Thứ ba, giải pháp về hình thành các cơ sở dữ liệu: hình thành, kết nối liên thông, duy trì và vận hành hệ thống dữ liệu không gian đô thị số hóa và cơ sở dữ liệu đô thị quốc gia; Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu đô thị và hệ thống dữ liệu không gian đô thị theo tầng bậc, từng bước hoàn thiện theo cấp độ đô thị, vùng và quốc gia;Thực hiện, ứng dụng ICT trong quản lý cơ sở dữ liệu hạ tầng kỹ thuật đô thị, quản lý trật tự xây dựng, quản lý đất xây dựng đô thị, quản lý cấp thoát nước, thu gom xử lý rác thải, diện tích cây xanh, mặt nước và cảnh quan tự nhiên, quản lý không gian ngầm đô thị và các lĩnh vực khác;Nâng cao năng lực bảo vệ an ninh, an toàn thông tin, xử lý sự cố.
Thứ tư, giải pháp về ứng dụng công nghệ trong quy hoạch và quản lý đô thị: Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông minh trong quy hoạch và quản lý phát triển đô thị, theo đó, phát triển ứng dụng thông minh hỗ trợ ra quyết định trong công tác lập, thẩm định, công bố công khai quy hoạch đô thị; Phát triển hệ thống cung cấp thông tin quy hoạch và tiếp nhận ý kiến góp ý, phản hồi của cộng đồng, thông minh hóa quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch đô thị;Thực hiện đổi mới lý luận và phương pháp lập quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.
Thứ năm, giải pháp về phát triển hạ tầng: Đầu tư, phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị thông minh, trước mắt ưu tiên tập trung đầu tư các lĩnh vực sau:(i) Phát triển chiếu sáng đô thị thông minh; (ii) Phát triển giao thông thông minh, hệ thống điều khiển hướng dẫn cho người tham gia giao thông, chỉ huy kiểm soát và xử lý ứng cứu tình huống khẩn cấp; (iii) Phát triển hệ thống cấp thoát nước thông minh, đảm bảo khả năng kiểm soát, xử lý ô nhiễm và an toàn chất lượng;(iv) Phát triển hệ thống thu gom và xử lý rác thải đô thị thông minh; (v) Phát triển lưới điện thông minh; Phát triển hệ thống cảnh báo rủi ro, thiên tai.Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông (ICT): Phát triển các trung tâm xử lý điều hành thông tin tập trung, đa nhiệm; Phát triển hạ tầng ICT của các đô thị; Nâng cao mức độ phổ cập sử dụng, kết nối các thiết bị đầu cuối thông minh.
Thứ sáu, giải pháp về phát triển các tiện ích thông minh cho dân cư đô thị: Hình thành các tiện ích dịch vụ công cộng thông minh nhanh gọn, thuận tiện, tiện lợi cho người dân; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản trị an toàn công cộng xã hội, giám sát môi trường, phòng chống tội phạm và các lĩnh vực quản lý xã hội khác đi đôi với việc bảo vệ quyền tự do và thông tin cá nhân, kiểm soát việc sử dụng dữ liệu thông tin cá nhân; Đẩy mạnh việc triển khai ứng dụng thương mại điện tử, thông báo, cho phép sử dụng thanh toán trực tuyến các dịch vụ của cư dân đô thị; Hình thành các trung tâm kết nối công dân gắn với bộ phận một cửa, hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích các mô hình dịch vụ trực tuyến về dịch vụ giáo dục, đào tạo trực tuyến, dịch vụ truy vấn cơ hội việc làm, y tế chăm sóc sức khỏe, văn hóa đô thị, vui chơi giải trí và các tiện ích khác;Phát triển các tiện ích cảnh báo cho người dân về các vấn đề rủi ro, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề khác có mức độ ảnh hưởng lớn.
Thứ bảy, giải pháp về xây dựng tiềm lực (Xây dựng tiềm lực phát triển đô thị thông minh bền vững): Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực: (i) Xây dựng, bồi dưỡng phát triển năng lực, kỹ năng, vai trò trách nhiệm của công dân thông minh; (ii) Lồng ghép và phát triển các nội dung đào tạo về đô thị thông minh ở bậc đại học và sau đại học trong chương trình đào tạo các ngành đào tạo có liên quan bao gồm quy hoạch đô thị, kiến trúc, xây dựng, giao thông, hạ tầng kỹ thuật đô thị, trang thiết bị công trình, đô thị, điện, nước công trình, quản lý đô thị và các ngành đào tạo khác; (iii) Xây dựng, lồng ghép nội dung phát triển đô thị thông minh bền vững trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý xây dựng và phát triển đô thị, áp dụng đối với các đô thị từ loại III trở lên trong giai đoạn 2018 - 2025.Phát triển nghiên cứu, chế tạo, ứng dụng khoa học công nghệ đô thị thông minh: (i) Thúc đẩy sáng tạo khởi nghiệp, xây dựng các nền tảng kết nối mạng lưới, khuyến khích trao đổi kinh nghiệm, kiến thức, hỗ trợ các dự án khởi nghiệp trong các lĩnh vực liên quan đô thị thông minh, tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững; (ii) Khuyến khích xã hội hóa, đầu tư doanh nghiệp để hình thành và phát triển các trung tâm, cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm chuyển giao công nghệ đô thị thông minh, tăng trưởng xanh; (iii) Xây dựng mạng lưới liên kết, phối hợp giữa các cơ sở đào tạo, các viện, trung tâm nghiên cứu, các doanh nghiệp, chính quyền các đô thị. Hình thành các chuỗi liên kết khép kín đào tạo - nghiên cứu - sản xuất - ứng dụng; (iv) Nâng cao năng lực trong nước về nghiên cứu, phát triển, chế tạo, thị trường hóa các sản phẩm phần cứng, phần mềm phục vụ đô thị thông minh; (v) Nghiên cứu phát triển các vật liệu xây dựng, trang thiết bị công trình, trang thiết bị tiện nghi đô thị, công nghệ xây dựng tiên tiến sử dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường.
Thứ tám, giải pháp về huy động nguồn lực: Theo đó, tăng cường huy động các nguồn vốn đầu tư, hỗ trợ kỹ thuật trong và ngoài nước:Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, áp dụng các mô hình hợp tác công tư PPP và các mô hình đầu tư khác để đầu tư chiều sâu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, hiện đại hóa thiết bị các phòng thí nghiệm, đầu tư hạ tầng kỹ thuật đô thị thông minh, trang thiết bị phục vụ quản lý đô thị và thực hiện các nội dung nhiệm vụ khác của đề án;Đẩy mạnh, thu hút các nguồn vốn hỗ trợ kỹ thuật, hợp tác quốc tế để phát triển nghiên cứu ứng dụng có hiệu quả công nghệ giải pháp phát triển đô thị thông minh; Ban hành các cơ chế chính sách ưu tiên, ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai và các ưu đãi khác để khuyến khích thu hút các thành phần tham gia phát triển đô thị thông minh.
Thứ chín, giải pháp về chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế: Tăng cường hợp tác, trao đổi thông tin về phát triển đô thị thông minh với các quốc gia, tổ chức quốc tế; Tranh thủ sự giúp đỡ đẩy mạnh hội nhập của các tổ chức quốc tế trong phát triển đô thị thông minh, hợp tác thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu nhằm phát triển nguồn nhân lực cũng như tiếp cận công nghệ tiên tiến; Nghiên cứu, xây dựng các căn cứ pháp lý và điều kiện thuận lợi để Việt Nam cam kết và tham gia tích cực trong các hoạt động của cộng đồng ASEAN và quốc tế về phát triển đô thị thông minh; Tham gia các diễn đàn quốc tế về phát triển đô thị thông minh để kịp thời nắm bắt các xu hướng mới của thế giới trong việc đánh giá, phát triển đô thị thông minh.
Thứ mười, giải pháp về truyền thông nâng cao nhận thức: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước, các thành phần kinh tế - xã hội và cộng đồng về vai trò và lợi ích về đô thị thông minh; tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về vai trò, ý nghĩa của đô thị thông minh, khuyến khích sự chủ động tham gia; Đẩy mạnh các hình thức đa dạng đối thoại chính sách nhằm tháo gỡ các khó khăn, hỗ trợ cho doanh nghiệp trong các lĩnh vực phát triển đô thị thông minh; Tổ chức các mô hình đa dạng bồi dưỡng, đào tạo nâng cao nhận thức và năng lực của cộng đồng, hướng dẫn sử dụng các tiện ích về đô thị thông minh; Định kỳ tổ chức các sự kiện về phát triển đô thị thông minh nhằm cung cấp thông tin về tình hình triển khai cũng như thu hút sự quan tâm, góp ý của các cấp, các ngành và cộng đồng xã hội; Định kỳ tổ chức đánh giá, công bố, biểu dương khen thưởng các tổ chức cá nhân có thành tích tiêu biểu, các đô thị đã đạt được hiệu quả tích cực trong triển khai xây dựng phát triển đô thị thông minh.
Có thể nói, việc thực hiện 10 nhóm giải pháp nêu trên sẽ tạo ra nhiều cơ hội quan trọng để các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, chính quyền các cấp tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng, phát triển các thành phố thông minh ở Việt Nam. Trong bối cảnh xuất phát điểm của Việt Nam còn khá thấp so với các quốc gia tiên tiến trên thế giới và trong khu vực, tốc độ hình thành các đô thị hoặc thành phố thông minh phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm chính trị của các cấp lãnh đạo, sự đồng lòng của người dân, sự hưởng ứng của các nhà đầu tư, các doanh nhân, trí thức và nhà khoa học cùng sự khéo léo trong huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực của chính quyền các cấp. Hi vọng, mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và chính quyền các cấp đều là những tác nhân thúc đẩy quá trình chuyển đổi để khát vọng hình thành mạng lưới đô thị thông minh, tạo không gian và môi trường phát triển tối ưu cho người dân Việt Nam sớm thành hiện thực.
TS. Nguyễn Văn Cương
Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý

[1]. Comparative Study of Smart Cities in Europe and China (2016) (Springer, 2016) at vi.
[2]. Ramon Gil-Garcia, Theresa A. Pardo and Taewoo Nam (eds.), Smarter as the New Urban Agenda: A Comprehensive View of the 21st Century City (New York and London: Springer, 2016) at 7.
[3] Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 1/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030.
[4]Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 1/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030.