Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử theo Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
28/07/2026
Tranh tụng trong tố tụng là mô hình pháp lý của nền tư pháp hiện đại. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và các luật chuyên ngành của Nhà nước ta. Trong phạm vi bài viết này, qua phân tích những nội dung của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam và thực trạng việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam tác giả kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện nguyên tắc này, cụ thể:
- Quy định về người bào chữa:
Thứ nhất, cần có những quy định cụ thể cho phép người bào chữa được tham gia hỏi cung và lấy lời khai mà không cần sự đồng ý của người có thẩm quyền. Quy định tại khoản b Điều 73 BLTTHS 2015 như hiện nay gây rườm rà, khó hiểu mà lại hạn chế quyền của người bào chữa. Do đó, theo tác giả, nên sửa lại ngắn gọn là: Người bào chữa có quyền “Có mặt và tham gia hỏi khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ và các nội dung hỏi cung đều được ghi nhận vào biên bản hỏi cung”.
Thứ hai, cần xem xét quy định về sự có mặt của người bào chữa. Chính sự có mặt của người bào chữa là điều kiện để thực hiện việc tranh tụng một cách công bằng và có sự đối trọng. Do đó, tác giả đề nghị cần xem xét về quy định này yêu cầu phải có mặt của người bào chữa như quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên. Nếu lo lắng sự vắng mặt của Luật sư sẽ làm cản trở và kéo dài vụ án thì nên đưa chế tài xử lý trách nhiệm của Luật sư trong các quy định khác như trong Luật Luật sư hoặc quy tắc ứng xử nghề Luật sư bằng các hình thức kỷ luật trước Liên đoàn luật sư sẽ nêu ở phần dưới đây.
Thứ ba, về quy định người bào chữa: theo quy định tại Điều 72, BLTTHS 2015 thì người bào chữa là Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; hoặc Bào chữa viên nhân dân… Để thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, theo tác giả, không nên quy định người bào chữa là một người nào cụ thể mà nên mở rộng cho tất cả mọi người. Chính quy định “bất cứ người nào” đã cho phép mở rộng để mọi người có thể tham gia bào chữa cho bị cáo. Chúng ta nên quy định người bào chữa là bất cứ ai do bị cáo nhờ hoặc Tòa án chỉ định đều có quyền bào chữa nếu biết hoặc liên quan đến vụ án.
Thứ tư, cần quy định rõ trách nhiệm pháp lý của Luật sư bào chữa trước bị can, bị cáo. Để bảo đảm cho Luật sư có trách nhiệm trong việc bào chữa của mình đối với bị cáo, thiết nghĩ pháp luật cũng nên có quy định về trách nhiệm của Luật sư, như trách nhiệm hoàn trả tỷ lệ tiền thù lao cho thân chủ, hoặc khoản phạt trước Liên đoàn luật sư hay trách nhiệm bị kỷ luật trước Liên đoàn như phê bình, cảnh cáo, tạm đình chỉ hành nghề.... Đặc biệt, có thể truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có cơ sở cho rằng Luật sư không làm tròn trách nhiệm, không can thiệp kịp thời gây đến hậu nghiêm trọng như bị cáo bị xét xử oan, sai dẫn đến tự sát hoặc bị nhục hình dẫn đến chết người.
- Quy định về Kiểm sát viên:
Thứ nhất, cần quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên. Khoản 1 Điều 42 BLTTHS 2015 quy định Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Như đã phân tích ở trên, đó là sự chi phối của Viện kiểm sát đối với Tòa án, tác giả đề nghị bỏ quy định việc Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng công tố, vừa thực hiện kiểm sát việc xét xử của Tòa án. Việc này sẽ làm cho Tòa án bị lệ thuộc theo quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, do dó nên tách thành hai cơ quan độc lập công tố và kiểm sát.
Thứ hai, cần quy định về cơ quan tiến hành tố tụng. Khoản 1 Điều 34 BLTTHS 2015 quy định cơ quan tiến hành tố hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án. Nếu quy định Viện kiểm sát cùng Tòa án đều là cơ quan tiến hành tố tụng đã đặt Viện kiểm sát là bên buộc tội ngang hàng với Tòa án là bên xét xử. Theo tác giả, nên đưa Viện kiểm sát vào Điều 55 BLTTHS 2015 chỉ là một bên tham gia tố tụng, có địa vị bình đẳng với bên bị buộc tội. Vì vậy, nên đề xuất chia chủ thể tố tụng thành chủ thể buộc tội, chủ thể gỡ tội, Toà án và chủ thể khác (người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn…).
Thứ ba, quy định về nghĩa vụ của Viện kiểm sát trong việc thực hiện tranh tụng. Việc quy định Viện kiểm sát đối đáp tới cùng với các ý kiến rất cần hướng dẫn cụ thể của cấp có thẩm quyền. Thế nào là đối đáp đến cùng tại phiên tòa hình sự, có thể bổ sung Điều 4 BLTTHS 2015 để giải thích khái niệm đối đáp đến cùng và chế tài nếu không thực hiện khi xảy ra oan sai.
- Quy định về bị cáo:
Thứ nhất, kiến nghị xem xét quy định xét xử vắng mặt bị cáo. Chính sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa là để thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Vì vậy, đề nghị cần có những đánh giá và xem xét về trường hợp này. Có thể xem xét để tách trách nhiệm của bị cáo vắng mặt thành vụ án riêng.
Thứ hai, bổ sung quyền được hỏi của bị cáo trong quá trình xét xử. Điều 309, 310, 311 BLTTHS 2015 quy định bị cáo có quyền hỏi bị hại, nguyên đơn dân sự, người làm chứng... nếu được chủ tọa phiên tòa đồng ý. Nếu hiểu theo quy định này thì quyền đặt câu hỏi của bị cáo vẫn bị hạn chế vào sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa cho phép hỏi hay không. Để thực hiện nguyên tắc xét xử công khai, công bằng, minh bạch và để nguyên tắc tố tụng tranh tụng được tốt hơn, quyền được đặt câu hỏi của bị cáo nên được mở rộng, không bị hạn chế trừ khi những câu hỏi đó không liên quan đến tình tiết vụ án hay câu hỏi vòng vo, trùng lắp. Kiến nghị bổ sung quyền được tư vấn pháp luật và quyền được gặp luật sư của bị cáo. Để bảo đảm được quyền của bị cáo trong xét xử, tác giả kiến nghị nên bổ sung Điều 61 BLTTHS 2015 để thêm quyền cho bị cáo. Cụ thể, cần bổ sung quyền được tư vấn pháp luật trong quá trình xét xử và trong quá trình tạm giam chờ xét xử. Bởi lẽ, khi bị cáo hiểu được đầy đủ quyền được pháp luật trao cho giúp bị cáo tự tin hơn trong quá trình tranh tụng, cũng như xét hỏi tại phiên tòa.
- Quy định về Tòa án:
Thứ nhất, bỏ thẩm quyền “thu thập chứng cứ” của Tòa án. Như đã phân tích ở trên, chính quy định Tòa án ngoài chức năng xét xử còn có chức năng đi tìm chứng cứ (có thể là chứng cứ buộc tội) thì mặc nhiên ý chí của Tòa án cho rằng bị cáo là có tội, do đó trong quá trình tranh tụng để bên bào chữa thuyết phục Tòa án bằng việc chứng minh sự vô tội của mình sẽ khó khăn hơn. Vì vậy, tác giả đề xuất bỏ khoản này để đưa Tòa án về đúng chức năng phân xử của mình.
Thứ hai, bỏ thẩm quyền “xác định sự thật của vụ án” của Tòa án. Để thực hiện đúng nguyên tắc tranh tụng thì Tòa án phải là cơ quan đứng “trung lập” thực hiện chức năng phân xử chứ không phải trách nhiệm đi chứng minh tội phạm. Nếu nói Tòa án có nghĩa vụ chứng minh thì Tòa án chỉ chứng minh tính căn cứ và lý do khi đưa ra phán quyết của mình.
- Quy định về thủ tục tố tụng:
Thứ nhất, liên quan đến vấn đề tranh luận của Luật sư tại phiên tòa. Theo tác giả, pháp luật tố tụng hình sự nên có những quy định cụ thể khái niệm “không liên quan vụ án” trong khoản 3 Điều 322 BLTTHS 2015, đó là trong trường hợp nào thì chủ tọa phiên tòa được quyền cắt ý kiến của người bào chữa và trường hợp nào thì không.
Thứ hai, quy định về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm. Theo tác giả, nên quy định Kiểm sát viên hỏi trước, sau đó đến người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự. Chủ tọa phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm hỏi thêm nếu thấy cần thiết.
Tóm tắt từ bài viết của Ths. Nguyễn Anh Hoàng
Khoa Pháp luật Hình sự, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Tạp chí nghiên cứu lập pháp Số 06 (478) tháng 3/2023


