Phân biệt các trường hợp: không phải chịu trách nhiệm hình sự, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam
12/03/2026
Trong pháp luật hình sự Việt Nam, các trường hợp “không phải chịu trách nhiệm hình sự”, “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, “loại trừ trách nhiệm hình sự” và “miễn trách nhiệm hình sự” đều liên quan đến việc xác định hậu quả pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng và nghiên cứu khoa học pháp lý, các khái niệm này đôi khi chưa được phân biệt rõ ràng, dẫn đến sự nhầm lẫn trong nhận thức và áp dụng pháp luật. Bài viết này phân tích các quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) và Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) liên quan đến bốn trường hợp nêu trên; trên cơ sở đó, làm rõ bản chất pháp lý, điều kiện áp dụng và vị trí của từng chế định trong hệ thống pháp luật hình sự và chỉ ra những điểm khác biệt cơ bản giữa chúng. Từ việc phân tích và so sánh, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nhận thức lý luận và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
1. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự và các trường hợp không áp dụng trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định trung tâm của luật hình sự, thể hiện phản ứng pháp lý của Nhà nước đối với hành vi phạm tội. Theo cách hiểu chung trong khoa học luật hình sự, “trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của các chủ thể phải chấp hành biện pháp tác động của Nhà nước được pháp luật hình sự quy định và được Tòa án tuyên bằng bản án về hành vi phạm tội đã xảy ra”[1]. Việc đặt ra trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện khi có đầy đủ các điều kiện nhất định, bao gồm: có hành vi nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó được quy định là tội phạm trong Bộ luật hình sự; người thực hiện hành vi có năng lực trách nhiệm hình sự; và hành vi được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đều dẫn đến việc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Bên cạnh việc xác định các điều kiện phát sinh trách nhiệm hình sự, pháp luật hình sự còn quy định một số trường hợp mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu hoặc không bị áp dụng trách nhiệm hình sự. Những quy định này phản ánh nguyên tắc nhân đạo, công bằng và hợp lý của pháp luật hình sự, đồng thời thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong việc xử lý tội phạm. Về mặt khái quát, các trường hợp không áp dụng trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam có thể được phân thành bốn trường hợp cơ bản, bao gồm: (i) trường hợp pháp luật quy định người thực hiện hành vi “không phải chịu trách nhiệm hình sự” trong những hoàn cảnh nhất định; (ii) trường hợp có dấu hiệu tội phạm nhưng vì những lý do pháp lý hoặc tố tụng mà người thực hiện hành vi “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”; (iii) trường hợp hành vi gây thiệt hại nhưng không bị coi là tội phạm do đáp ứng các điều kiện “loại trừ trách nhiệm hình sự”; và (iv) trường hợp mặc dù hành vi đã cấu thành tội phạm nhưng Nhà nước quyết định không xử lý trách nhiệm hình sự trên cơ sở chính sách hình sự, tức là “miễn trách nhiệm hình sự”. Việc nhận diện và phân biệt rõ bốn trường hợp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong cả lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về bốn trường hợp không áp dụng trách nhiệm hình sự
2.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự
BLHS Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không có quy định riêng biệt về trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự mà ghi nhận trong một số điều khoản về những trường hợp mà pháp luật, trên cơ sở cân nhắc các yếu tố đạo đức xã hội, hoàn cảnh thực hiện hành vi và đặc điểm của chủ thể, xác định rằng việc áp dụng trách nhiệm hình sự là không cần thiết hoặc không phù hợp, cụ thể:
- Khoản 2 Điều 18 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định rằng người che giấu tội phạm là người thân thích[2] của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này. Quy định này xuất phát từ việc thừa nhận yếu tố tình cảm gia đình và đạo đức xã hội trong quan hệ thân thích, ruột thịt.
- Tương tự, đối với hành vi không tố giác tội phạm, pháp luật cũng có những quy định ngoại lệ. Theo khoản 2 Điều 19 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 19 Bộ luật này quy định người bào chữa cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa. Quy định này nhằm bảo đảm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo mật thông tin giữa người bào chữa và người được bào chữa.
2.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Khác với các trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự - phản ánh việc người thực hiện hành vi không phải chịu hậu quả pháp lý hình sự ngay từ đầu do những đặc điểm về chủ thể hoặc hoàn cảnh của hành vi, các trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự lại phát sinh chủ yếu trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Nói cách khác, “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” phản ánh việc trách nhiệm hình sự có thể đặt ra nhưng không thể hoặc không cần thiết phải tiếp tục xử lý bằng quy trình tố tụng hình sự vì những lý do pháp lý hoặc tố tụng, cụ thể:
- Một trong những căn cứ phổ biến dẫn đến việc không truy cứu trách nhiệm hình sự là hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại Điều 27 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2015), thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều luật đồng thời xác định các mức thời hiệu khác nhau tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
- Một trường hợp khác là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 12 Bộ luật này, người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật này.
- Theo khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), một số tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại. Vì vậy, nếu bị hại không yêu cầu khởi tố thì cơ quan tiến hành tố tụng không được khởi tố vụ án. Đồng thời, khoản 2 Điều này cũng ghi nhận trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định việc rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
- Trong quá trình điều tra, nếu không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, việc truy cứu trách nhiệm hình sự cũng phải chấm dứt. Theo điểm b khoản 1 Điều 230 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án khi hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm. Quy định này bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và nguyên tắc chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ căn cứ pháp luật.
2.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được quy định tập trung tại Chương IV BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), thể hiện quan điểm của nhà làm luật rằng trong một số tình huống đặc biệt, việc gây thiệt hại cho xã hội có thể là cần thiết, hợp lý hoặc không thể tránh khỏi nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước, hoặc do người thực hiện hành vi không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, cụ thể:
- Trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự được ghi nhận đầu tiên là sự kiện bất ngờ (Điều 20); theo đó, người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, mặc dù hậu quả nguy hại đã xảy ra nhưng người thực hiện hành vi không có lỗi vì không thể nhận thức trước được hậu quả của hành vi.
- Một trường hợp khác là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, được quy định tại Điều 21. Theo quy định này, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cần lưu ý Điều 21 thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự nhưng hệ quả pháp lý của nó là người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Bên cạnh đó, pháp luật còn ghi nhận trường hợp phòng vệ chính đáng. Theo Điều 22 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm, do đó người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Tương tự, tình thế cấp thiết được ghi nhận tại Điều 23 là tình thế của người vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Trong trường hợp này, hành vi gây thiệt hại cũng không bị coi là tội phạm vì mục đích là nhằm ngăn ngừa một thiệt hại lớn hơn.
- Ngoài ra, BLHS còn quy định trường hợp gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội. Theo Điều 24, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết thì hành vi đó không bị coi là tội phạm, trừ trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết.
- Pháp luật còn ghi nhận rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Theo Điều 25 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm hoặc áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Cuối cùng, thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân cũng được coi là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo Điều 26, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh mà đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo nhưng vẫn bị yêu cầu chấp hành mệnh lệnh thì không phải chịu trách nhiệm hình sự mà người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.
2.4. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trường hợp miễn trách nhiệm hình sự
Khác với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà theo đó hành vi ngay từ đầu không bị coi là tội phạm, miễn trách nhiệm hình sự được áp dụng trong trường hợp hành vi đã cấu thành tội phạm và về nguyên tắc, người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vì những căn cứ đặc biệt theo chính sách hình sự của Nhà nước mà người đó được miễn trách nhiệm hình sự. Không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với người không có hành vi thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm, cụ thể Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định như sau:
- Các căn cứ đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; hoặc khi có quyết định đại xá.
- Các căn cứ có thể được miễn trách nhiệm hình sự: Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận; hoặc người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
3. Phân biệt bốn trường hợp không áp dụng trách nhiệm hình sự và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nhận thức lý luận và nâng cao hiệu quả áp dụng
3.1. Phân biệt
Mặc dù bốn trường hợp: “không phải chịu trách nhiệm hình sự”, “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, “loại trừ trách nhiệm hình sự” và “miễn trách nhiệm hình sự” đều có hệ quả chung là người thực hiện hành vi không bị áp dụng hình phạt, nhưng về bản chất pháp lý, thời điểm áp dụng, ý nghĩa pháp lý đều có sự khác biệt rõ rệt. Việc phân biệt các trường hợp này có thể dựa trên ba tiêu chí cơ bản sau đây.
Thứ nhất, về bản chất pháp lý, điểm khác biệt quan trọng nhất là việc hành vi có bị coi là tội phạm hay không. Đối với trường hợp “loại trừ trách nhiệm hình sự”, mặc dù có hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng hành vi đó không bị coi là tội phạm do được thực hiện trong những điều kiện đặc biệt được pháp luật thừa nhận (như phòng vệ chính đáng hoặc tình thế cấp thiết). Tương tự, các hành vi thuộc trường hợp “không phải chịu trách nhiệm hình sự” cũng không bị coi là tội phạm do chủ yếu xuất phát từ điều kiện đặc biệt liên quan đến chủ thể hoặc quan hệ xã hội đặc thù (như trường hợp người thân thích hoặc người bào chữa không tố giác tội phạm). Đối với trường hợp “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự,” hành vi có thể đã có dấu hiệu của tội phạm và về nguyên tắc có thể đặt ra trách nhiệm hình sự, nhưng vì những lý do pháp lý hoặc tố tụng nên cơ quan có thẩm quyền không tiến hành hoặc không thể tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, “miễn trách nhiệm hình sự” được áp dụng trong trường hợp hành vi đã cấu thành tội phạm và trách nhiệm hình sự đã phát sinh, nhưng Nhà nước quyết định không áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trên cơ sở chính sách hình sự.
Thứ hai, về thời điểm áp dụng, các trường hợp này xuất hiện ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình xử lý tội phạm. Trường hợp “loại trừ trách nhiệm hình sự” và “không phải chịu trách nhiệm hình sự” được xem xét ngay khi đánh giá bản chất pháp lý của hành vi và chủ thể thực hiện hành vi, bởi nếu thuộc các trường hợp này thì hành vi không bị coi là tội phạm. Trong khi đó, các trường hợp “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” thường phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi cơ quan tiến hành tố tụng xem xét các điều kiện pháp lý hoặc tố tụng liên quan đến việc khởi tố, điều tra hoặc tiếp tục xử lý vụ án. Đối với “miễn trách nhiệm hình sự”, việc áp dụng thường được đặt ra trong giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử, khi cơ quan có thẩm quyền cân nhắc các điều kiện cụ thể để quyết định có cần thiết áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hay không.
Thứ ba, về hậu quả pháp lý, cả bốn trường hợp đều dẫn đến việc người thực hiện hành vi không phải chịu hình phạt. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý của từng trường hợp lại không giống nhau. Trong trường hợp “loại trừ trách nhiệm hình sự” và “không phải chịu trách nhiệm hình sự”, hành vi không bị coi là tội phạm nên không phát sinh trách nhiệm hình sự. Đối với trường hợp “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, việc xử lý hình sự không được tiến hành hoặc phải chấm dứt do những căn cứ pháp lý hoặc tố tụng; còn trong trường hợp “miễn trách nhiệm hình sự”, mặc dù hành vi đã cấu thành tội phạm nhưng Nhà nước quyết định không áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội vì những lý do chính sách hình sự.
3.2. Một số kiến nghị cụ thể
Thứ nhất, làm rõ hơn nữa về mặt lý luận và chuẩn hóa thuật ngữ pháp lý liên quan đến các trường hợp không áp dụng trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự. Thực tiễn nghiên cứu, giảng vậy và thậm chí trong các văn bản quy phạm pháp luật vẫn tồn tại sự chưa thống nhất trong cách sử dụng các khái niệm như “không phải chịu trách nhiệm hình sự”, “loại trừ trách nhiệm hình sự”, “không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” và “miễn trách nhiệm hình sự”. Chẳng hạn, trong BLHS hiện hành, một số điều luật thuộc Chương IV - Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự lại sử dụng cách diễn đạt “không phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 20, Điều 21). Sự chưa thống nhất về thuật ngữ này có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu theo hướng phân định rõ các nhóm trường hợp “không áp dụng trách nhiệm hình sự” theo bản chất pháp lý, đồng thời thống nhất cách sử dụng thuật ngữ trong giáo trình, tài liệu nghiên cứu và trong hoạt động áp dụng pháp luật, góp phần hoàn thiện nhận thức lý luận về chế định trách nhiệm hình sự.
Thứ hai, cần tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Các cơ quan có thẩm quyền như Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần ban hành các văn bản hướng dẫn hoặc tổng kết thực tiễn xét xử nhằm làm rõ cách hiểu và cách áp dụng các quy định liên quan đến những trường hợp không áp dụng trách nhiệm hình sự. Điều này sẽ góp phần hạn chế những cách hiểu khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và bảo đảm sự thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Thứ ba, cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực luật hình sự, đặc biệt là trong các cơ sở đào tạo luật và các cơ quan nghiên cứu pháp lý. Việc tăng cường các nghiên cứu chuyên sâu, các hội thảo khoa học và hoạt động trao đổi học thuật về các chế định liên quan đến trách nhiệm hình sự sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận của pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật./.
ThS. Nguyễn Hoàng Chi Mai
Ban nghiên cứu Pháp luật hình sự và Cải cách tư pháp, Viện CL&KHPL
[1] GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2022), Trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp hình sự khác, Nxb. Tư pháp, tr.8.
[2] Là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội.


