Quy định về đại diện giữa vợ và chồng qua các thời kỳ và một số kiến nghị hoàn thiện
03/12/2025
Tại Việt Nam, pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng có sự biến đổi, bổ sung, hoàn thiện qua từng giai đoạn lịch sử, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng qua các thời kỳ cho thấy, vấn đề đại diện vợ chồng đã được quan tâm, gợi mở ngay từ thời kỳ phong kiến và từ đó đến nay, vấn đề này có sự sửa đổi, cùng cách diễn đạt và kỹ thuật lập pháp ngày càng hoàn thiện.
1. Trong thời kỳ phong kiến[1]
Quan hệ vợ chồng thời kỳ này mang nặng tính gia trưởng, bảo vệ quyền lợi của nam giới. Người phụ nữ bị ràng buộc bởi thuyết Nho giáo “tam tòng, tứ đức”, địa vị của người phụ nữ trong xã hội bị xem nhẹ, vai trò của người vợ trong gia đình bị đẩy lùi, quan hệ tài sản của vợ chồng là quan hệ bất bình đẳng. Mọi tài sản trong gia đình đều do người chồng định liệu. Các quy định của pháp luật trong thời kỳ này thể hiện qua Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình Luật)[2] và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ)[3], dù các quy định về hôn nhân và gia đình đã chiếm một vị trí quan trọng, tuy nhiên, trong cổ luật Việt Nam những quy định liên quan đến đại diện hay tài sản vợ chồng trong quan hệ hàng ngày hầu như không được quy định[4]. Chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ “cộng đồng toàn sản”, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng “Chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam là chế độ cộng đồng pháp định. Chế độ tài sản này được áp dụng như là duy nhất cho quan hệ vợ chồng”.[5] Mặc dù, trong Quốc triều hình luật đã có một số điểm tiến bộ được ghi nhận để bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, đó là những quy định về việc bảo vệ nhân phẩm, quyền tự do của phụ nữ trong quan hệ hôn nhân cũng như quan hệ tài sản (Điều 375 và Điều 376), phụ nữ được quyền sở hữu tài sản riêng và một phần tài sản riêng của chồng nếu việc ly hôn không phải do lỗi của người vợ hoặc khi người chồng chết, đây là điểm tiến bộ trong Bộ luật Hồng Đức mà sau này các nhà làm luật hiện đại tiếp thu và ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, Bộ luật Gia Long dù ra đời sau lại không ghi nhận những điểm tiến bộ trong Quốc triều hình luật, mà ảnh hưởng nặng nề của các nhà lập pháp Trung Quốc thời kỳ này nên các quan niệm về hôn nhân và gia đình, về tài sản vợ chồng trong Bộ luật Gia Long mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ, hôn nhân không tự do; Bộ luật cho phép người chồng có toàn quyền chuyển nhượng tài sản chung của vợ chồng, người vợ phải phụ thuộc người chồng một cách tuyệt đối và quyền tài sản của phụ nữ thì bị hạn chế.
Có thể nói, pháp luật thời kỳ này mang nặng tư tưởng lạc hậu, gia trưởng, trọng nam khinh nữ, tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” luôn tồn tại, đã làm cho người phụ nữ không được coi trọng và luôn bị khinh thường, các quyền lợi trong quan hệ hôn nhân và tài sản của người phụ nữ bị tước đoạt. Thời kỳ này người chồng có quyền ký kết bất kỳ hợp đồng nào liên quan đến tài sản của gia đình và được coi là đương nhiên có hiệu lực, quyền lực tập trung vào tay người chồng và không có sự bình đẳng giữa vợ và chồng, do đó quan hệ đại diện không được đặt ra trong thời kỳ này.
2. Giai đoạn trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945
Giai đoạn này nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến[6], chia làm 3 miền Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ. Quan hệ hôn nhân thời kỳ này được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật trong một số bộ luật dân sự được áp dụng cho từng khu vực.[7] Cả 3 Bộ luật thời kỳ này đều có chung đặc điểm về việc duy trì chế độ đa thê, bảo vệ, củng cố quyền lợi của người gia trưởng trong gia đình và vai trò của người phụ nữ không được coi trọng. Do pháp luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Pháp, vì vậy pháp luật cũng thừa nhận cho vợ chồng có quyền xây dựng các quan hệ tài sản theo thoả thuận (tuy nhiên việc thoả thuận hầu như không được các cặp vợ chồng quan tâm, mọi quyền quyết định liên quan đến tài sản vẫn thuộc về người chồng). Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ đều dự liệu việc quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình: đối với những nhu cầu chung của gia đình, vợ (chồng) có quyền đại diện cho gia đình để tham gia giao dịch đó.[8] Tuy nhiên, người phụ nữ không được phép tự động làm việc gì, kể cả những việc đại diện cho gia đình, vì lợi ích của gia đình, nếu người chồng không cho phép thực hiện thì phải có sự cho phép của “quan chánh án đệ nhị” mới được thực hiện. Người vợ chỉ có quyền quản lý những tài sản giới hạn trong sinh hoạt gia đình “vợ chỉ được quyền quản lý tài sản tuỳ theo giới hạn được thay mặt gia đình mà thôi”.[9] Như vậy, thời kỳ này đã có sự xuất hiện của đại diện giữa vợ và chồng, tuy nhiên “Phàm người vợ chính muốn tặng, cho, chuyển dịch, cầm thuế, thu nhận vật gì, có mất tiền hay không mất tiền, tất phải do người chồng cùng ký trong văn khế, hoặc phải có giấy của người chồng cho phép mới được. Khi nào vợ thứ đứng thay mặt cho gia đình hay chủ sự lợi ích cho gia đình mà lập khế ước với ai cũng phải thế”[10]. Đối với tài sản chung của vợ chồng thì người chồng có quyền định đoạt mà không cần hỏi ý kiến vợ, miễn là việc định đoạt tài sản đó phục vụ cho lợi ích của gia đình.[11] Như vậy, việc đại diện giữa vợ và chồng không thể thực hiện một cách tuyệt đối, chỉ có một chiều. Đây là điều bất công bằng đối với người vợ, tồn tại trong suốt xã hội và pháp luật của Nhà nước thực dân phong kiến.
3. Giai đoạn từ năm 1945 - 1954
Cách mạng Tháng 8 thành công, năm 1946 Hiến pháp ra đời đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong lịch sử lập pháp nước ta, ghi nhận “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Các văn bản pháp luật thời kỳ này cũng ghi nhận sự bình đẳng giữa chồng và vợ: Sắc lệnh 97/SL[12] quy định “Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình” (Điều 5); “Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về mật hộ” (Điều 6). Các quy định này chưa nhắc đến việc vợ chồng đại diện cho nhau nhưng thông qua các quy định về quyền của người phụ nữ đã thấy được vị trí pháp lý của người phụ nữ trong mối quan hệ với người chồng, họ được bình đẳng trước pháp luật và vị trí ngang hàng với chồng mình trong các quan hệ pháp luật dân sự, tuy thời kỳ này pháp luật không ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận nhưng người vợ đã có những quyền lợi và nghĩa vụ cùng chồng mình quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình liên quan đến tài sản chung, con chung. Điều này góp phần làm hạn chế và xoá bỏ những quy định lạc hậu của thời kỳ trước.
4. Giai đoạn từ năm 1954 - 1975
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, nước ta được chia làm hai miền, miền Bắc được giải phóng, bắt đầu thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước. Trước yêu cầu thực tế về một đạo luật HN&GĐ đáp ứng sự nghiệp giải phóng phụ nữ và xây dựng xã hội chủ nghĩa,[13] Luật Hôn nhân và Gia đình đã được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1959 (có hiệu lực thi hành từ 13/01/1960). Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 không dự liệu về chế độ tài sản cũng như việc định đoạt của vợ chồng nhưng tại Điều 15 đã quy định “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”, không còn tư tưởng trọng nam khinh nữ. Đối với quyền sở hữu tải sản chỉ có duy nhất Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 quy định cho vợ chồng chế độ toàn sản - tài sản có trước và sau kết hôn là tài sản chung của vợ chồng“Tài sản của vợ chồng là tài sản chung, trừ khi có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng” (Điều 14). Xét ở thời điểm Luật này được ban hành là rất phù hợp, thể hiện rõ quan điểm bảo vệ phụ nữ với tư cách là người vợ khi mà chế độ phong kiến đã bao phủ lên gia đình tính độc đoán, chuyên quyền của người đàn ông, quyền lực kinh tế luôn thuộc về người chồng. Vì vậy, việc quy định như vậy được xem như một biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình.[14]
Mặc dù quan hệ đại diện giữa vợ chồng không được đặt ra nhưng thông qua quy định về quyền của người vợ trong quan hệ gia đình có thể thấy được giá trị pháp lý của người phụ nữ trong gia đình.
Cùng thời điểm này, ở miền Nam lại áp dụng 3 văn bản khác nhau là Luật Gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình Diệm quy định về vấn đề “giá thú, tử hệ, chế độ phu phụ tài sản”; Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 thay thế Luật Gia đình ngày 02/01/1959; Bộ dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu quy định rõ hơn về quan hệ vợ chồng nhưng đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng và chế độ tài sản chung theo luật định chỉ được áp dụng khi vợ chồng không lập hôn ước. Điều này cho thấy được vai trò cũng như vị trí của người phụ nữ trong giai đoạn này. Tựu chung lại 3 luật này đều bảo vệ chế độ gia trưởng, và việc đại diện giữa vợ và chồng không được thể hiện rõ nét.
Bên cạnh các trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập theo thủ tục luật định, pháp luật thời kỳ này cũng quy định về “hôn nhân thực tế” đối với các trường hợp chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Việc công nhận những trường hợp này có ý nghĩa quan trọng đối với việc pháp luật có công nhận giữa họ có quan hệ đại diện giữa vợ và chồng hay không. Dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 không có quy định về hậu quả pháp lý của việc chung sống như vợ chồng, nhưng thuật ngữ “hôn nhân thực tế” đã xuất hiện lần đầu tiên trong Thông tư số 112/NCPL,[15] theo đó, hôn nhân thực tế là hôn nhân được công nhận dựa trên cơ sở thực tế là các bên nam, nữ đã và đang chung sống như vợ chồng, có đủ điều kiện kết hôn, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn có thẩm quyền.
5. Giai đoạn từ năm 1975 đến trước Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Năm 1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 được đưa vào thực hiện thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, quá trình thực hiện đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần xoá bỏ lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, cải thiện đáng kể vị trí vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Kể từ năm 1986, khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thay cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, đã thúc đẩy cho sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế - quốc tế, điều này đã làm cho các vấn đề về gia đình ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng hơn; gia đình không còn bó hẹp với chức năng duy trì cuộc sống của các thành viên, mà thực sự đã tham gia tích cực vào nền kinh tế xã hội; gia đình đã dần thay đổi và mang một diện mạo mới, chính sự thay đổi này đã tác động đến quan điểm về vấn đề đại diện giữa vợ và chồng. Trong kì họp Quốc hội khoá VII, Luật Hôn nhân và Gia đình mới được thông qua (1986), ghi nhận “Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, đổi, cho vay, mượn và những giao dịch khác có quan hệ đến tài sản mà có giá trị lớn thì phải được sự thoả thuận của vợ, chồng” (Điều 15). Thời kỳ này, chế độ toàn sản không còn phù hợp khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế ở cuối thập niên 80, vì vậy, Luật đã quy định cho vợ chồng chế độ tạo sản - ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng. Mặc dù quan hệ đại diện vẫn chưa được đặt ra, nhưng quyền định đoạt đối với phần tài sản của mình đã được quy định cụ thể.
Về vấn đề hôn nhân thực tế, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 nêu rõ: “Việc kết hôn vi phạm một trong các điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật”. Điều 8 quy định về hình thức kết hôn không được đề cập ở đó. Điều này đã khiến người dân cho rằng, việc vi phạm Điều 8, tức là kết hôn không đăng ký không trái pháp luật. Bên cạnh đó, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP[16] cũng đã công nhận đối với những trường hợp “hôn nhân thực tế” để giải quyết các hậu quả pháp lý nảy sinh từ việc chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Cụ thể, Mục 2 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP quy định: “Trong thực tế vẫn có không ít trường hợp kết hôn không có đăng ký. Việc này tuy có vi phạm về thủ tục kết hôn nhưng không coi là việc kết hôn trái pháp luật, nếu việc kết hôn không trái với các điều 5, 6, 7. Trong những trường hợp này, nếu có một hoặc hai bên xin ly hôn, Tòa án không hủy việc kết hôn theo Điều 9 mà xử như việc xin ly hôn theo Điều 40”. Đồng thời, Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1995 cũng nêu rõ “Giai đoạn hiện nay chỉ công nhận có hôn nhân thực tế đối với những trường hợp hai bên nam nữ chung sống với nhau được hàng chục năm, có con chung, có tài sản chung”. Quy định này có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền lợi cho các bên đương sự, nhất là với phụ nữ, do đó, Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục thừa nhận “hôn nhân thực tế” đối với những cặp chung sống như vợ chồng với nhau hàng chục năm mà không đăng ký kết hôn, có tài sản hoặc có con chung. Sau đó, tại Công văn số 16/1999/KHXX[17] Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn những trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn để được công nhận là “hôn nhân thực tế” phải có điều kiện là việc chung sống như vợ chồng phải được xác lập trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực pháp luật (ngày 03/01/1987). Như vậy, nội dung các quy định liên quan đến việc thừa nhận hôn nhân thực tế có xu hướng ngày càng thu hẹp bằng cách đặt ra nhiều điều kiện hơn. Việc thừa nhận hôn nhân thực tế chỉ là giải pháp tạm thời nhằm giải quyết những hậu quả phát sinh từ việc chung sống không đăng ký kết hôn cũng như bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em. Cũng trong thời kỳ này, pháp luật cũng quy định việc công nhận quan hệ hôn nhân được xác lập trước ngày 13/01/1960 ở miền Bắc và trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam, do cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác (Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao).[18]
6. Giai đoạn từ Luật HN&GĐ năm 2000 đến trước Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Lần đầu tiên chế định đại diện giữa vợ và chồng được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: “1. Vợ chồng có thể uỷ quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ chồng; việc uỷ quyền phải được lập thành văn bản. 2. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Toà án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó” (Điều 24), khẳng định vị trí, vai trò của người vợ ngang bằng với chồng trong mọi giao dịch, bảo đảm sự an toàn cho các quan hệ tài sản phát sinh trong nội bộ các thành viên gia đình cũng như với các chủ thể khác ngoài xã hội. Đặc biệt, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định việc đại diện theo pháp luật của một bên vợ chồng khi bên kia bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự (vấn đề này cũng được quy định rõ tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật Dân sự năm 2005). Như vậy, quyền đại diện của vợ chồng trong pháp luật dân sự và hôn nhân và gia đình đã rõ ràng, cụ thể hơn. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 vẫn chưa có quy định về đại diện của vợ chồng trong quan hệ kinh doanh mặc dù thời gian đó đã xuất hiện nhiều giao dịch của vợ chồng liên quan đến tài sản chung cũng như sử dụng tài sản chung, tài sản riêng để kinh doanh.
Đối với vấn đề hôn nhân thực tế, ở giai đoạn này, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không thừa nhận giá trị pháp lý của quan hệ chung sống như vợ chồng. Theo đó, khoản 1 Điều 11 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng…”, đồng thời sử dụng thuật ngữ “chung sống như vợ chồng” để thay thế cho thuật ngữ “hôn nhân thực tế”. Tuy nhiên, để giải quyết hậu quả pháp lý của quan hệ hôn nhân thực tế đã tồn tại ở Việt Nam nhiều năm, các nhà lập pháp đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề này như: Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10[19]; Nghị định số 77/2001/NĐ-CP[20]; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP[21]… Những văn bản trên đã đưa ra hướng dẫn cụ thể giải quyết đối với những trường hợp vi phạm việc đăng ký kết hôn từ trước ngày 01/01/2001. Điển hình như: Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP[22] “về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình” đã giải thích rõ: được coi là nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau đây: có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau; việc họ chung sống với nhau được gia đình (một hoặc hai bên) chấp nhận; việc họ chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau xây dựng gia đình. Đối với những trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng kể từ ngày 01/01/2001 trở đi mà không đăng ký kết hôn đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cũng không đưa ra quy định riêng để giải quyết hậu quả pháp lý đối với những quan hệ phát sinh từ ngày này. Có thể thấy, thông qua quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, các nhà làm luật Việt Nam đã thể hiện thái độ kiên quyết xóa bỏ hôn nhân thực tế và chỉ đưa ra các quy định để giải quyết hậu quả pháp lý của lịch sử để lại.
7. Giai đoạn từ khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực đến nay
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ra đời thay thế cho Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, trong đó bổ sung, hoàn thiện những khuyết điểm trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 như: sửa đổi, bổ sung căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng (Điều 24) trên cơ sở Điều 24 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, thay đổi về cách trình bày câu chữ để rõ ràng hơn, thêm nội dung mới “…xác định theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan”; đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh (Điều 25); đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng (Điều 26); mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm liên đới (Điều 27); bổ sung nguyên tắc không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, đảm bảo sự bình đẳng của vợ chồng trong gia đình (Điều 29); giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng (Điều 31); Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng (Điều 32)… Đặc biệt, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 lần đầu tiên ghi nhận thêm chế độ tài sản theo thoả thuận (Điều 47 - 50),[23] thể hiện sự bình đẳng giữa nam nữ trong việc bàn bạc và ra quyết định tự đưa ra một khung pháp lý về tài sản cho hôn nhân và hoàn toàn phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã đưa ra khái niệm “chung sống như vợ chồng” và các quy định giải quyết hậu quả pháp lý của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng. Về nguyên tắc, Luật HN&GĐ năm 2014 vẫn không thừa nhận giá trị pháp lý của việc chung sống như vợ chồng, nhưng đã đưa ra quy định về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Bởi lẽ, quan hệ hôn nhân dù có giá trị pháp lý hay không thì nó vẫn hình thành nên mối quan hệ gia đình giữa các thành viên. Vì vậy, để giải quyết hậu quả pháp lý của quan hệ hôn nhân thực tế, Điều 131 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định về điều khoản chuyển tiếp như sau “1. Quan hệ HN&GĐ được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về HN&GĐ tại thời điểm xác lập để giải quyết. 2. Đối với vụ việc về HN&GĐ do Tòa án thụ lý trước ngày Luật này có hiệu lực mà chưa giải quyết thì áp dụng thủ tục theo quy định của Luật này. 3. Không áp dụng Luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về HN&GĐ trước ngày Luật này có hiệu lực”. Do đó, các quy định liên quan đến hôn nhân thực tế vẫn được áp dụng. Căn cứ Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 thì những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng; kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 của Nghị quyết này, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Gần đây, TANDTC đã ban hành các Án lệ về chung sống như vợ chồng như sau: Án lệ số 41/2021/AL về chấm dứt hôn nhân thực tế,[24] nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, nhưng sau đó, họ không còn chung sống với nhau và trước khi Luật HNGĐ năm 1986 có hiệu lực, có người chung sống với nhau như vợ chồng với người khác. Quan hệ hôn nhân đầu tiên và quan hệ hôn nhân thứ hai đều là hôn nhân thực tế. Trong trường hợp này, giải pháp pháp lý được Tòa án đưa ra là quan hệ hôn nhân thực tế đầu tiên được xác định là đã chấm dứt. Án lệ số 53/2022/AL về việc hủy kết hôn trái pháp luật[25] đã công nhận trường hợp các bên sống chung với nhau như vợ chồng trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. Việc công nhận hôn nhân thực tế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các quyền, nghĩa vụ của các bên, đặc biệt đây cũng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc đại diện giữa vợ và chồng có được công nhận trong những trường hợp này hay không.
Tuy nhiên, hiện nay pháp luật HN&GĐ vẫn còn tồn tại một số bất cập về đại diện giữa vợ và chồng cần phải hoàn thiện trong thời gian tới, có thể kể đến như:
- Về trường hợp vợ, chồng là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi: So sánh với quy định tại Điều 23 BLDS năm 2015 lần đầu tiên BLDS ghi nhận khi một người được Tòa án ra quyết định tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì Tòa án sẽ “chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”, và người giám hộ có quyền “Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự” (điểm b, khoản 1 Điều 57 BLDS năm 2015). Đây được coi là điểm mới có giá trị, thể hiện được tính bao quát các trường hợp người được giám hộ, góp phần bảo vệ tốt hơn các chủ thể là người yếu thế trong các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời trước BLDS năm 2015, vì vậy điều này không được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014. Do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 cần bổ sung quy định về trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án ra quyết định tuyên bố là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để có sự tương thích, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.
- Về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh: quy định về đại diện giữa vợ và chồng trong quan hệ kinh doanh tại Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2014 chưa rõ ràng, có thể dẫn tới cách hiểu: khoản 1 Điều 25 “Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác” là chỉ áp dụng đối với việc vợ chồng đưa tài sản riêng vào kinh doanh, còn khoản 2 Điều 25 “Trong trường hợp vợ, chồng đưa tài sản chung vào kinh doanh thì áp dụng quy định tại Điều 36 của Luật này” là đưa tài sản chung vào kinh doanh. Do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 cần quy định rõ việc kinh doanh chung được thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản riêng hoặc có thể bằng cả tài sản chung và tài sản riêng.
Bên cạnh đó, việc thoả thuận giữa vợ và chồng chỉ áp dụng trong trường hợp “trước khi tham gia quan hệ kinh doanh” mà không quy định về lập văn bản thoả thuận sau khi đã tham gia quan hệ kinh doanh làm cho các giao dịch không được an toàn, dễ gây thiệt hại khi có một bên cố ý do quá trình kinh doanh có thể xảy ra nhiều tình huống mà trước khi kinh doanh các bên không lường trước được. Do đó, cần quy định việc “thỏa thuận khác” bao gồm cả trước khi vợ chồng tham gia quan hệ kinh doanh và cả trong quá trình kinh doanh.
- Về giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng: khoản 1 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó”, điều này có thể gây hiểu lầm là người vợ hoặc chồng đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán có quyền đại diện đương nhiên cho chồng hoặc vợ mình xác lập giao dịch với người thứ ba. Có thể thấy, quy định này hướng tới bảo vệ người thứ ba ngay tình nhưng chưa bảo vệ quyền, lợi ích của vợ hoặc chồng không tham gia vào giao dịch. Khi được xác định là người ngay tình thì họ được bảo vệ quyền, lợi ích phát sinh từ giao dịch, nhưng giao dịch đó vẫn có thể bị vô hiệu, vì người vợ hoặc chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán nhưng họ không đương nhiên có quyền đại diện cho chồng hoặc vợ mình xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Trong những trường hợp này, giao dịch do vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán xác lập với người thứ ba chỉ có hiệu lực khi phù hợp với quy định về đại diện giữa vợ và chồng.
- Về cơ chế giám sát việc giám hộ: chưa có tính khả thi, hiệu quả vì việc giám hộ hay giám sát việc giám hộ thường được xác lập trước tiên trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng giữa các thành viên gia đình nên bị chi phối bởi yếu tố tình cảm, các bên chủ thể thường tự giác thực hiện mà ít bị chú ý, ít có sự “theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ” theo quy định của pháp luật.[26] Trong việc giám hộ giữa vợ và chồng, người giám sát việc giám hộ thường là cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi; con đẻ; anh, chị, em ruột… của người được giám hộ. Để bảo vệ kịp thời lợi ích của người được giám hộ, người giám sát việc giám hộ cần có sự theo dõi sát sao, kiểm tra việc giám hộ của người giám hộ, nhằm đảm bảo các giao dịch mà người giám hộ xác lập, thực hiện là vì lợi ích của người được giám hộ.
NCS. ThS. Lưu Thị Phấn
Ban NLPL Dân sự - Kinh tế
Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
[1] Thời kỳ phong kiến của Việt Nam kéo dài từ năm 938 (khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, giành độc lập) đến năm 1945 (khi vua Bảo Đại thoái vị, chấm dứt chế độ quân chủ). Trước năm 938, Việt Nam trải qua thời kỳ Bắc thuộc, tức là bị các triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ. Thời kỳ này kéo dài hơn 1.000 năm (từ năm 179 trước công nguyên đến 938).
[2] Được ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497).
[3] Được ban hành dưới triều Nguyễn (1892).
[4] Nguyễn Văn Cừ (2008), Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
[5] Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.40.
[6] Việt Nam trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến từ năm 1884, khi thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lược và đặt ách thống trị lên toàn bộ lãnh thổ nước ta.
[7] Tại Bắc Kỳ áp dụng Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Trung Kỳ áp dụng Bộ dân luật Trung Kỳ năm 1936, Nam Kỳ áp dụng Bộ dân luật giản yếu năm 1883.
[8] Điều 100, 111 Bộ Dân luật Bắc Kỳ; Điều 98, 109 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
[9] Điều 108 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931.
[10] Điều 102 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931.
[11] Đoạn 2 Điều 109 Bộ dân luật Bắc Kỳ và đoạn 2 Điều 107 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
[12] Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật.
[13] Tờ trình của Chính phủ trước Quốc hội ngày 23/12/1959 về dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình - Công báo số 1 năm 1960 nêu rõ “Việc ban hành một đạo luật mới về hôn nhân và gia đình đã trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội. Đó là một tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta”.
[14] Nguyễn Thị Lan, Pháp luật hôn nhân và gia đình nhìn từ góc độ bình đẳng giới-quá trình phát triển và hướng hoàn thiện trong Kỷ nguyên mới, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Việt Nam: 80 năm xây dựng, phát triển và định hướng hoàn thiện trong Kỷ nguyên mới”.
[15] Thông tư số 112/NCPL ngày 19/8/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xử lý về dân sự những việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn.
[16] Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 1986.
[17] Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 giải đáp về một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng.
[18] Thông tư số 60/TATC ngày 22/02/1978 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác.
[19] Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
[20] Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 về thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
[21] Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTPcủa Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000.
[22] Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC- VKSNDTC- BTP ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội.
[23] Về lịch sử lập pháp, thực tế chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận đã được quy định trong pháp luật thời kỳ thuộc Pháp và ở miền Nam từ 1959 đến năm 1972 (áp dụng đến ngày 25/3/1977), xem: Bộ dân luật Bắc kỳ 1931; Bộ dân luật Trung kỳ 1936; Luật Gia đình (02/01/1959); Sắc luật 15/64 (23/7/1964) và Bộ dân luật Sài Gòn (20/12/1972).
[24] Án lệ số 41/2021/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 23/02/2021và được công bố theo Quyết định 42/QĐ-CA ngày 12/3/2021 của Chánh án TANDTC.
[25] Án lệ số 53/2022/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án TANDTC.
[26] Điểm a khoản 4 Điều 51 BLDS năm 2015.


