Giới thiệu Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo
19/05/2026
Ngày 30/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo (sau đây gọi tắt là Nghị định). Đây là văn bản hướng dẫn thi hành có ý nghĩa nền tảng, góp phần hoàn thiện khung pháp lý về quản lý, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam, đồng thời đặt ra nhiều cơ chế mới nhằm thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực này.
Nghị định số 142/2026/NĐ-CP gồm 08 chương, 46 điều và hệ thống biểu mẫu kèm theo, quy định các nhóm nội dung lớn như: cơ chế vận hành, quản lý và khai thác Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo; phân loại mức độ rủi ro của hệ thống trí tuệ nhân tạo; đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao; trách nhiệm minh bạch, giải trình và xử lý sự cố; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; phát triển hạ tầng, dữ liệu, công nghệ trí tuệ nhân tạo; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thị trường trí tuệ nhân tạo; trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về trí tuệ nhân tạo.
Có thể thấy, Nghị định không chỉ cụ thể hóa các quy định của Luật Trí tuệ nhân tạo theo hướng quản lý rủi ro, mà còn bước đầu xây dựng đồng bộ các công cụ thể chế để hỗ trợ phát triển trí tuệ nhân tạo như một lĩnh vực công nghệ mới, có tác động sâu rộng tới phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và quản trị quốc gia.
Một số nội dung trọng tâm của Nghị định số 142/2026/NĐ-CP như sau:
Thứ nhất, quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo theo mức độ rủi ro
Một nội dung trung tâm của Nghị định là quy định về phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo mức độ rủi ro, gồm: rủi ro cao, rủi ro trung bình và rủi ro thấp. Theo đó, hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao được xác định trên cơ sở Danh mục do Thủ tướng Chính phủ ban hành; hệ thống rủi ro trung bình là các hệ thống không thuộc danh mục rủi ro cao nhưng có khả năng gây nhầm lẫn, tác động hoặc thao túng người sử dụng do người sử dụng không nhận biết được chủ thể tương tác là hệ thống trí tuệ nhân tạo hoặc nội dung do hệ thống tạo ra; các hệ thống còn lại được phân loại là rủi ro thấp.
Nghị định cũng quy định nguyên tắc rà soát, phân loại lại trong trường hợp hệ thống có thay đổi đáng kể về chức năng, mục đích sử dụng, dữ liệu, phạm vi triển khai hoặc khi phát sinh sự cố nghiêm trọng. Đây là cách tiếp cận quản lý hiện đại, phù hợp với xu hướng quản trị công nghệ mới trên thế giới, trong đó trọng tâm quản lý được đặt vào mức độ tác động và rủi ro thực tế của hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Thứ hai, bổ sung cơ chế thông báo, hồ sơ phân loại rủi ro và đánh giá sự phù hợp
Nghị định quy định nhà cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro trung bình và rủi ro cao phải thông báo kết quả phân loại rủi ro cho Bộ Khoa học và Công nghệ thông qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo trước khi đưa hệ thống vào sử dụng. Đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao, nhà cung cấp còn phải thực hiện đánh giá sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng; đối với một số hệ thống thuộc danh mục bắt buộc chứng nhận, việc đánh giá phải được thực hiện thông qua tổ chức đánh giá sự phù hợp.
Đặc biệt Nghị định cho phép tận dụng kết quả đánh giá theo pháp luật chuyên ngành, pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hoặc pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để chứng minh việc đáp ứng yêu cầu tương ứng theo pháp luật về trí tuệ nhân tạo, qua đó góp phần hạn chế trùng lặp, giảm chi phí tuân thủ cho tổ chức, doanh nghiệp.
Thứ ba, tăng cường yêu cầu minh bạch, gắn nhãn và giải trình đối với nội dung do AI tạo ra
Nghị định đặt ra các yêu cầu cụ thể về minh bạch, đánh dấu kỹ thuật, gắn nhãn hiển thị và giải trình đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo và nội dung do hệ thống tạo ra. Theo đó, nhà cung cấp phải áp dụng giải pháp kỹ thuật để nội dung đầu ra là âm thanh, hình ảnh, video được đánh dấu ở định dạng máy đọc; bên triển khai phải thông báo rõ ràng, gắn nhãn dễ nhận biết khi cung cấp ra công chúng nội dung do AI tạo ra hoặc chỉnh sửa có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật hoặc nguồn gốc nội dung.
Các quy định này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh các công nghệ AI tạo sinh, deepfake, mô phỏng giọng nói, hình ảnh và video phát triển nhanh, đặt ra nhiều thách thức mới đối với việc bảo đảm tính xác thực của thông tin, bảo vệ quyền con người, quyền riêng tư, danh dự, nhân phẩm và trật tự, an toàn xã hội.
Thứ tư, quy định cơ chế báo cáo và xử lý sự cố nghiêm trọng của hệ thống trí tuệ nhân tạo
Nghị định quy định về báo cáo và xử lý sự cố nghiêm trọng của hệ thống trí tuệ nhân tạo. Theo đó, khi xảy ra sự cố nghiêm trọng, nhà cung cấp hoặc bên triển khai phải báo cáo sơ bộ trong thời hạn 72 giờ đối với sự cố khẩn cấp hoặc 05 ngày làm việc đối với các sự cố nghiêm trọng còn lại; đồng thời phải gửi báo cáo chính thức về kết quả khắc phục trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nộp báo cáo sơ bộ.
Việc quy định rõ ngưỡng sự cố, thời hạn báo cáo và trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể có liên quan cho thấy khung pháp lý về AI của Việt Nam không chỉ dừng ở kiểm soát đầu vào, mà đã quan tâm nhiều hơn đến cơ chế giám sát trong suốt quá trình vận hành của hệ thống.
Thứ năm, bổ sung cơ chế đánh giá tác động khi sử dụng trí tuệ nhân tạo trong cơ quan nhà nước
Nghị định yêu cầu cơ quan nhà nước phải thực hiện đánh giá tác động khi sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo thuộc nhóm rủi ro cao hoặc hệ thống AI có liên quan đến quyền con người, công bằng xã hội hoặc lợi ích công cộng mà kết quả của hệ thống được sử dụng làm căn cứ trực tiếp để người có thẩm quyền xem xét, quyết định ban hành quyết định hành chính.
Báo cáo đánh giá tác động phải làm rõ mục tiêu sử dụng, dữ liệu đầu vào, mức độ tự động hóa, cơ chế giám sát của con người, các rủi ro có thể phát sinh, biện pháp kiểm soát và kế hoạch giám sát sau triển khai. Quy định này góp phần khẳng định nguyên tắc quan trọng: trí tuệ nhân tạo không thay thế trách nhiệm quyết định của con người trong hoạt động công vụ, đặc biệt trong các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Thứ sáu, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát mở ra không gian pháp lý cho đổi mới sáng tạo
Một trong những nội dung mới nổi bật của Nghị định là quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo. Nghị định phân loại thử nghiệm thành 03 cấp độ trên cơ sở đánh giá tổng hợp về mức độ rủi ro, loại dữ liệu sử dụng, phạm vi triển khai, đối tượng chịu tác động và khả năng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nghị định đồng thời quy định rõ điều kiện, hồ sơ tham gia thử nghiệm, thẩm quyền tiếp nhận và chấp thuận, chế độ báo cáo định kỳ, báo cáo sự cố, báo cáo vượt giới hạn thử nghiệm, cũng như cơ chế kết thúc thử nghiệm và vận hành chuyển tiếp sau thử nghiệm. Đây là cơ chế có ý nghĩa rất lớn đối với khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, tổ chức khoa học và công nghệ, nhóm nghiên cứu, vì tạo điều kiện thử nghiệm sản phẩm, giải pháp AI mới trong một khuôn khổ pháp lý được kiểm soát, an toàn và linh hoạt hơn.
Thứ bảy, nhiều nội dung mới gắn trực tiếp với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Nghị định quy định về hạ tầng, dữ liệu, công nghệ lõi, cơ chế hỗ trợ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Theo đó, Nghị định xác lập mô hình hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia theo hướng kết hợp giữa hạ tầng do Nhà nước đầu tư và hạ tầng do doanh nghiệp, tổ chức xã hội đầu tư, phát triển; trong đó Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì hạ tầng phục vụ nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo, Bộ Công an chủ trì hạ tầng phục vụ quản lý nhà nước. Nghị định cũng quy định cơ sở dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo theo nguyên tắc mở, an toàn, có kiểm soát, đồng thời cho phép sử dụng ngân sách nhà nước để thu thập, tạo lập, chuẩn hóa, gán nhãn, chú thích dữ liệu phục vụ AI, trong đó có thông qua nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, Nghị định xác định rõ các công nghệ trí tuệ nhân tạo cốt lõi được ưu tiên thúc đẩy làm chủ, như mô hình nền tảng, mô hình ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, công nghệ xử lý dữ liệu và ngôn ngữ Việt Nam, công nghệ huấn luyện AI hiệu năng cao, phần cứng, vi mạch bán dẫn và giải pháp mã nguồn mở. Đặc biệt, Nghị định còn quy định các công cụ hỗ trợ mới như Phiếu hỗ trợ phát triển trí tuệ nhân tạo nhằm hỗ trợ chi phí sử dụng hạ tầng tính toán, dữ liệu dùng chung, nền tảng huấn luyện, kiểm thử và dịch vụ kỹ thuật cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức khoa học và công nghệ, nhóm nghiên cứu và các chủ thể có dự án AI phù hợp. Đồng thời, Nghị định quy định về cụm liên kết trí tuệ nhân tạo, tạo cơ sở hình thành mạng lưới hợp tác giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường AI gắn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/5/2026. Đồng thời, Nghị định cũng quy định điều khoản chuyển tiếp, theo đó trong trường hợp Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo chưa được công bố vận hành chính thức, việc thực hiện các thủ tục thông báo, báo cáo theo Nghị định được thực hiện thông qua hệ thống thông tin điện tử, dịch vụ công trực tuyến hoặc phương thức tiếp nhận do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố, bảo đảm thống nhất trên phạm vi toàn quốc và có giá trị pháp lý tương đương.
Chi tiết xem tại Nghị định số 142/2026/NĐ-CP ngày 30/4/2026 của Chính phủ.


