Học thuyết “quả trên cây độc” trong tư pháp hình sự Hoa Kỳ và khuyến nghị cho Việt Nam
28/07/2026
Trong tố tụng hình sự, chứng cứ là một trong những chế định quan trọng nhất. Mọi vận động của con người trong thế giới khách quan đều để lại dấu vết, và chứng cứ trong vụ án hình sự là những dấu vết mà các hành vi phạm tội (hoặc chuẩn bị phạm tội) để lại trong thế giới khách quan sau khi sự việc đã xảy ra, được các bên trong vụ án hình sự dùng để tái hiện lại nội dung vụ việc. Vì lẽ đó, chứng cứ, và các quy định xoay quanh như thu thập, bảo quản, đánh giá chứng cứ có giá trị quan trọng bậc nhất trong việc chứng minh tội phạm.
Một trong các thuộc tính của chứng cứ được thừa nhận ở hầu hết các nền tư pháp trên thế giới là tính hợp pháp của chứng cứ (legality), hay nói cách khác, việc thu thập chứng cứ có bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật hay không. Việc thừa nhận hay loại trừ đối với chứng cứ có giá trị chứng minh cao, nhưng lại được thu thập theo cách trái luật đặt ra nhiều ý kiến khác nhau trên thế giới. Nếu thừa nhận chứng cứ bị thu thập trái phép, sẽ có thêm căn cứ chứng minh sự thật của vụ án, nhưng đồng thời cũng khuyến khích hành vi trái luật của lực lượng điều tra. Ngược lại, nếu từ bỏ chứng cứ đó, sự thật của vụ án có thể sẽ không bao giờ được khám phá đầy đủ, nhưng lại tránh rủi ro lạm quyền từ cơ quan tố tụng.
Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã lựa chọn phương án thứ hai, và học thuyết “quả trên cây độc” (nguyên văn “Fruit of the Poisonous Tree”) được lựa chọn vận dụng để điều chỉnh vấn đề trên. Học thuyết “quả trên cây độc” là một trong các học thuyết nền tảng định hướng hoạt động thu thập chứng cứ trong việc điều tra vụ án hình sự, cũng như hoạt động đánh giá chứng cứ tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự tại Hoa Kỳ. Theo đó, nếu trình tự thu thập chứng cứ không tuân thủ quy định pháp luật (cây đã bị nhiễm độc), thì các chứng cứ được thu thập cũng được xem là không hợp pháp (quả cũng bị nhiễm độc theo) và phải bị loại bỏ, không được sử dụng trước Tòa án. Giá trị lớn nhất của học thuyết này là bảo đảm sự thượng tôn pháp luật của lực lượng cảnh sát khi điều tra vụ án, đồng thời, bảo vệ các quyền cơ bản của người bị buộc tội. Trong bài viết này, các tác giả trình bày, phân tích học thuyết “quả trên cây độc” trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ, chỉ ra sự thiếu hụt quy định tương tự trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích, tác giả cho rằng, việc áp dụng học thuyết “quả trên cây độc” vào tố tụng hình sự Việt Nam là hoàn toàn có thể và cần thiết. Bởi lẽ, hiện khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã áp dụng một phần học thuyết này khi đã loại trừ các chứng cứ sơ phát là hệ quả trực tiếp của việc vi phạm trình tự, thủ tục khi thu thập, việc mở rộng phạm vi áp dụng học thuyết loại trừ chứng cứ này là hoàn toàn có thể. Mặt khác, việc mở rộng phạm vi loại trừ chứng cứ bất hợp pháp là cần thiết để triệt tiêu hoàn toàn động lực vi phạm tố tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ, bảo đảm hoạt động điều tra hình sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật, hạn chế sự xâm phạm đến quyền con người, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và gia tăng lòng tin của cộng đồng vào hệ thống tư pháp. Do đó, các tác giả kiến nghị áp dụng học thuyết “quả trên cây độc” vào tố tụng hình sự Việt Nam cùng với các ngoại lệ như sau:
Thứ nhất, bổ sung khoản 3 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc loại trừ chứng cứ thứ phát, cụ thể: “3. Những gì được thu thập dựa trên thông tin của chứng cứ đã bị loại trừ theo quy định tại khoản 2 của Điều này cũng không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.
Thứ hai, bổ sung khoản 4 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để quy định về những trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc trên, cụ thể: “4. Những chứng cứ được quy định tại khoản 3 của Điều này vẫn có thể có giá trị pháp lý và được sử dụng là chứng cứ nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau đây:
a) Chứng cứ đó được khám phá từ một nguồn thông tin độc lập với chứng cứ bị loại trừ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Việc khám phá ra chứng cứ đó là khôn g thể tránh khỏi, bất kể chứng cứ bị loại trừ theo quy định tại khoản 2 Điều này có được thu thập hay không;
c) Không có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa việc thu thập chứng cứ đó với chứng cứ bị loại trừ theo quy định tại khoản 2 Điều này;
d) Khi người thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ bị loại trừ theo quy định tại khoản 2 Điều này không biết và không thể biết được việc thu thập chứng cứ trên là chưa tuân thủ trình tự, thủ tục do luật định vào thời điểm thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ”.
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử là bảo đảm sự công bằng giữa hai bên, bên buộc tội và bên bị buộc tội. Nếu lực lượng điều tra có thể vi phạm pháp luật mà thu thập chứng cứ, hiển nhiên sẽ rất bất lợi cho bên bị buộc tội. Không chỉ vậy, việc vi phạm pháp luật còn dẫn đến sự bất lợi cho chính bên buộc tội; bởi lẽ, chứng cứ thu thập được sẽ không bảo đảm được tính chất chứng minh tội phạm. Như vậy, mọi nỗ lực điều tra, truy tố sau này đều sẽ là sản phẩm của hành vi vi phạm pháp luật. Và do đó, việc tuân thủ các nguyên tắc, quy định của pháp luật cần được tuân thủ triệt để. Điều này không chỉ bảo vệ quyền con người của bên bị buộc tội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, mà còn là sự tôn trọng sự thật khách quan của vụ án và nỗ lực của các cơ quan tiến hành tố tụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Tóm tắt từ bài viết của Ths. Võ Minh Kỳ
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
Ths. Nguyễn Phương Anh
Vụ pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp.
đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 05 (477), tháng 03/2023


