Một số giải pháp thúc đẩy vai trò của luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc về môi trường nước ở Việt Nam
10/05/2026
Bài viết này phân tích các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến sự tham gia của luật sư trong các vụ việc về môi trường nước tại Việt Nam; đồng thời đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế về luật sư môi trường, kiện tụng vì lợi ích công và hỗ trợ tiếp cận công lý môi trường, từ đó đề xuất nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả của sự tham gia và vai trò của luật sư giải quyết các vụ việc về môi trường nước nói chung và bảo quyền con người đối với nước nói riêng tại Việt Nam như sau:
Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tố tụng môi trường theo hướng thừa nhận và thiết kế cụ thể cơ chế khởi kiện tập thể, khởi kiện vì lợi ích công trong lĩnh vực môi trường. Nên bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật Bảo vệ môi trường các quy định cho phép tổ chức xã hội, tổ chức hành nghề luật sư, hội nghề nghiệp được quyền đứng đơn khởi kiện bảo vệ lợi ích chung về môi trường nước khi có đủ bằng chứng về thiệt hại. Đồng thời, tăng cường vai trò chủ động của Viện kiểm sát trong các vụ việc môi trường mang tính chất lợi ích công cộng, tương tự kinh nghiệm một số quốc gia đang phát triển.
Hai là, mở rộng phạm vi trợ giúp pháp lý nhà nước và xây dựng các cơ chế tài chính hỗ trợ kiện tụng môi trường. Luật Trợ giúp pháp lý cần bổ sung rõ các vụ việc môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, vào danh mục được ưu tiên; ngân sách cần dành một phần cho việc chi trả thù lao luật sư, án phí và chi phí giám định trong các vụ kiện có đông người bị hại. Song song với đó có thể thành lập Quỹ hỗ trợ tố tụng môi trường từ nguồn đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và ngân sách nhà nước, nhằm khuyến khích luật sư nhận các vụ việc khó, phức tạp, giá trị vật chất không cao nhưng có ý nghĩa xã hội lớn.
Ba là, bảo đảm an toàn nghề nghiệp và củng cố địa vị pháp lý độc lập cho luật sư môi trường. Cần rà soát các quy định về trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính đối với luật sư để tránh việc lạm dụng nhằm gây sức ép khi họ tham gia bảo vệ cộng đồng trong các vụ việc nhạy cảm. Liên đoàn Luật sư Việt Nam nên xây dựng cơ chế giám sát, hỗ trợ và lên tiếng kịp thời khi luật sư môi trường bị đe dọa, quấy nhiễu, đồng thời nghiên cứu đề xuất quy định chống SLAPP trong pháp luật Việt Nam, học hỏi kinh nghiệm các nước và khuyến nghị của IBA, Lawyers for Lawyers.
Bốn là, nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của luật sư trong lĩnh vực môi trường nước. Cần đưa các chuyên đề về pháp luật môi trường, pháp luật tài nguyên nước, kỹ năng tham gia vụ việc môi trường và đạo đức nghề nghiệp trong bối cảnh khủng hoảng khí hậu vào chương trình đào tạo luật, đào tạo nghề luật sư và bồi dưỡng thường xuyên. Liên đoàn Luật sư có thể ban hành bộ hướng dẫn hành nghề “xanh”, khuyến khích luật sư tư vấn cho khách hàng theo hướng giảm tác động xấu đến môi trường nước và hạn chế tham gia bảo vệ cho những dự án, hoạt động có nguy cơ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.
Năm là, thúc đẩy liên kết giữa luật sư, tổ chức xã hội, nhà khoa học và truyền thông trong bảo vệ môi trường nước. Có thể thí điểm mô hình liên minh luật sư, các tổ chức, đoàn thể, ban công tác, nhóm chuyên gia môi trường để hỗ trợ cộng đồng trong các vụ ô nhiễm nước lớn; xây dựng cơ chế tham vấn khoa học độc lập về chất lượng nước, tác động sức khỏe, thiệt hại kinh tế để cung cấp chứng cứ vững chắc cho luật sư khi tranh tụng. Bên cạnh đó, cần phát triển các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (hòa giải, trọng tài, đối thoại do tòa án chủ trì) với sự tham gia tích cực của luật sư nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí và bảo đảm tiếng nói của cộng đồng.
Sáu là, nghiên cứu khả năng xây dựng các đơn vị xét xử chuyên trách về môi trường trong hệ thống tòa án và cơ quan công tố. Việc có thẩm phán, kiểm sát viên chuyên sâu về môi trường nước sẽ giúp các lập luận pháp lý và kỹ thuật của luật sư được tiếp nhận và đánh giá đầy đủ hơn, qua đó nâng cao chất lượng xét xử và hiệu quả răn đe, phòng ngừa của pháp luật.
Tóm tắt từ bài viết của ThS. Ngôn Chu Hoàng,
Giảng viên Khoa Luật - Đại học Mở Hà Nội
đăng trên Ấn phẩm Tạp chí Nghề luật số 01/2026


