Một số lý thuyết đương đại về pháp luật và việc áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
28/07/2026
Trong bài viết này, tác giả bước đầu làm rõ nội dung một số lý thuyết pháp luật đương đại trên thế giới, trong đó có lý thuyết pháp luật của Lon Luvois Fuller (1902 - 1978), John Finnis (sinh năm 1940), Jeremy Bentham (1748 – 1832), John Austin (1790 – 1859), Hans Kelsen (1881 – 1973), Herbert Lionel Adolphus Hart (1907-1992), Ronald Myles Dworkin (1931 - 2013)… Từ việc nghiên cứu những lý thuyết pháp luật này, tác giả có sự liên hệ với việc áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.
Theo tác giả, ở Việt Nam từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới đến nay, các tư tưởng pháp luật, các lý thuyết pháp luật có sự thay đổi rất lớn, nhiều quan niệm, quan điểm pháp luật được hình thành và phát triển đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của đất nước trong điều kiện mới. Một mặt, ở Việt Nam vẫn kiên trì, củng cố và phát triển những tư tưởng pháp luật dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mặt khác, có sự cởi mở trong việc nghiên cứu, trao đổi, tiếp nhận những lý thuyết pháp luật tiến bộ, phù hợp của nhân loại nói chung, phù hợp với với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam nói riêng. Ở Việt Nam, một số tư tưởng pháp luật cũ đang mất dần, một số tư tưởng pháp luật mới đã và đang được nghiên cứu nhưng cũng chưa toàn diện, chưa được ổn định và chưa được ghi nhận, áp dụng rộng rãi.
Từ những lý thuyết pháp luật đã phân tích, bên cạnh việc đưa ra những lý thuyết có những giá trị tích cực, có thể vận dụng trong điều kiện ở Việt Nam, tác giả cũng chỉ ra một số lý thuyết pháp luật có những điểm không phù hợp với điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Việt Nam như:
- Nhiều nhà tư tưởng thuộc trường phái pháp luật thực chứng cho rằng pháp luật và đạo đức không có mối liên hệ với nhau. Điều này theo tác giả bài viết là không phù hợp. Thực tế đã chứng minh pháp luật dưới thời cai trị của Hitler không mang những giá trị đạo đức, không hướng tới công lý, công bằng, bảo vệ quyền con người đã gây ra những đau thương ra sao. Khi nói đến trường phái pháp luật thực chứng, người ta hướng đến sự rõ ràng, sự xác định điều này là đúng, nên khuyến khích, nhưng pháp luật không nên bị đồng nhất với hệ thống các quy phạm pháp luật hiện hành đơn thuần, vì pháp luật rộng hơn thế, pháp luật có mục đích hướng đến cái đúng, sự công bằng, nhân đạo, bảo vệ quyền con người.
- Pháp luật thực chứng có nói đến chế tài như là một lý do quan trọng biện minh cho việc cần phải tuân thủ pháp luật. Tuy vậy, việc thực thi pháp luật trên thực tế không phải chỉ giản đơn là do người ta sợ chế tài. Một số nhà tư tưởng thuộc trường phái pháp luật thực chứng chưa chú trọng đến khía cạnh người ta thực thi pháp luật là do họ thấy pháp luật đúng, pháp luật công bằng, pháp luật chứa đựng những giá trị dựa vào đó mà họ tôn trọng và tuân theo. “Điều quan trọng là làm sao để có sự tôn trọng pháp luật trên cơ sở niềm tin nội tâm, sự tự ý thức của cá nhân chứ không phải là sự sợ hãi bị chế tài cưỡng chế”. Không phải cứ xử phạt thật nặng, đưa ra nhiều chế tài là mọi người sẽ tuân thủ pháp luật. Ở khía cạnh này, GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế cũng đưa ra giải pháp rằng: “Cần khuyến khích và tạo điều kiện cho những hành vi hợp pháp, tích cực pháp luật trong cộng đồng là một trong những việc làm thường xuyên với những đầu tư thỏa đáng về tinh thần, vật chất và kỹ thuật”.
- Một số lý thuyết thuộc trường phái pháp luật thực chứng quá nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước. Ví dụ, theo Bentham, luật có 3 yếu tố là: 1) những mệnh lệnh (commands), 2) do nhà nước ban hành (sovereign), có phạm vi áp dụng rõ ràng và 3) được hậu thuẫn bởi những chế tài (punishments). Thực tế, pháp luật không phải chỉ bao gồm những gì do nhà nước ban hành, mà còn bao gồm cả những thứ nhà nước thừa nhận, chẳng hạn ở Việt Nam hiện nay bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật còn có các nguồn pháp luật khác như điều ước quốc tế, tập quán, thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng dân sự, thương mại không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội, án lệ, lẽ công bằng.
Cuối cùng, tác giả bài viết nhấn mạnh: các lý thuyết pháp luật không mang lại câu trả lời cụ thể giống như cho những câu hỏi ai đúng, ai sai, ai phạm tội, ai phải bồi thường trong một tình huống pháp lý phát sinh, mà lý thuyết pháp luật có giá trị soi đường, định hướng tư duy với những người thực hành luật khi nó khiến họ suy nghĩ về cơ sở của những gì họ đang làm là gì. Lý thuyết pháp luật có vai trò rất quan trọng, cần thiết, là bệ đỡ, là nền tảng, là cơ sở cho mọi quy định pháp luật ra đời, tồn tại và phát huy vai trò điều chỉnh của nó. Vai trò thực sự của lý thuyết pháp luật là dẫn dắt sự phát triển của các lập luận và lý lẽ trong pháp luật. Nó giúp chúng ta lan tỏa niềm tin, giá trị và quan niệm, dẫn dắt chúng ta trong tiến trình phát triển các lập luận đúng và các lý lẽ có trọng lượng. Chúng ta cần khuyến khích và tiếp tục việc nghiên cứu các lý thuyết pháp luật, đặc biệt là khuyến khích tiếp tục làm rõ cơ sở của các lý thuyết, bối cảnh của lý thuyết, phạm vi áp dụng và tác động của các lý thuyết đó trên thực tế. Việc làm này vô cùng ý nghĩa, cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực, chủ động hội nhập toàn diện, trong đó có hội nhập về pháp luật.
Tóm tắt từ bài bài viết của
PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 01 +02/2023


