Công tác nghiên cứu khoa học năm 2023 phục vụ nhiệm vụ triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW về việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới
21/03/2024
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (sau đây gọi là Nghị quyết số 27-NQ/TW) với mục tiêu tổng quát được xác định là “Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có hệ thống pháp luật hoàn thiện, được thực hiện nghiêm minh, nhất quán; thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, được phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả; nền hành chính, tư pháp chuyên nghiệp, pháp quyền, hiện đại; bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, thực sự chuyên nghiệp, liêm chính; quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045[1]”. Với mục tiêu tổng quát như vậy, Nghị quyết đã xác định rõ 5 mục tiêu cụ thể; 3 nhiệm vụ trọng tâm và 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đồng thời, xác định rõ các yêu cầu và tiêu chí đánh giá, cũng như trách nhiệm của các cấp, các ngành trên từng lĩnh vực cụ thể.
Một trong các quan điểm triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW đã khẳng định rõ vị trí, vai trò và giá trị của nghiên cứu khoa học, là: “Những vấn đề thực tiễn đòi hỏi, đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, có sự thống nhất cao thì kiên quyết thực hiện; những vấn đề chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, thực hiện thí điểm khi cơ quan có thẩm quyền cho phép; những chủ trương đã thực hiện, nhưng không phù hợp thì nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi kịp thời” (đoạn cuối điểm 5 mục II Nghị quyết số 27-NQ/TW).
Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đã nêu một trong các nhiệm vụ, giải pháp quan trọng là việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn nhằm tạo lập cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Cụ thể, tại mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định rõ các nhiệm vụ nghiên cứu trong từng nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:
- Tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (điểm 2 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Tổng kết việc thực hiện và nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng phát huy tốt hơn các hình thức dân chủ trực tiếp của Nhân dân; có cơ chế bảo đảm thực hiện quyền của Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (điểm 2 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Phát triển khoa học pháp lý, nâng cao chất lượng các cơ sở nghiên cứu và đào tạo pháp luật (điểm 3 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn phạm vi, đối tượng, phương pháp, hình thức giám sát tối cao của Quốc hội phù hợp thực tiễn (điểm 4 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong vai trò thống lĩnh các lực lượng vũ trang, Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, trong hoạt động đối nội, đối ngoại, trong mối quan hệ với Quốc hội, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện Kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp (điểm 5 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tổ chức các bộ, các cơ quan chuyên môn đa ngành, đa lĩnh vực; giảm hợp lý số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Tăng cường vai trò, nâng cao trách nhiệm của Bộ trưởng với tư cách thành viên Chính phủ trong quản lý vĩ mô và xây dựng chính sách (điểm 6 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Xác định rõ và thực hiện đầy đủ vị trí, vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ trong xây dựng pháp luật, nâng cao năng lực phản ứng chính sách; Tiếp tục cải cách, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công, chất lượng dịch vụ công; sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, bảo đảm chất lượng, hoạt động hiệu quả (điểm 6 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Hoàn thiện tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với các địa bàn đô thị, nông thôn, miền núi, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; giảm cấp chính quyền phù hợp ở một số địa phương; xây dựng mô hình quản trị chính quyền địa phương phù hợp với từng địa bàn, gắn với yêu cầu phát triển các vùng, khu kinh tế (điểm 6 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Tổng kết thực tiễn, nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự trong trường hợp chủ thể các quyền dân sự là nhóm dễ bị tổn thương hoặc trường hợp liên quan đến lợi ích công nhưng không có người đứng ra khởi kiện (điểm 7 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Nghiên cứu làm rõ thẩm quyền hội đồng xét xử khởi tố vụ án tại phiên tòa, những trường hợp tòa án thu thập chứng cứ trong hoạt động xét xử (điểm 7 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế cơ quan điều tra kiến nghị xem xét, giải quyết trường hợp các lệnh, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra bị viện kiểm sát hủy bỏ hoặc không phê chuẩn không phù hợp với quy định của pháp luật (điểm 7 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
- Nghiên cứu thành lập các thiết chế mới về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (điểm 8 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
Đây được xác định là các định hướng, các nhiệm vụ trọng tâm được giao cho khoa học pháp lý phải nghiên cứu, lý giải nhằm tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho các quyết sách lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Nhà nước trong thời gian tới.
2. Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chủ yếu của Bộ Tư pháp phục vụ triển khai thực hiện các định hướng được xác định trong Nghị quyết số 27-NQ/TW
Ngay sau khi Nghị quyết số 27-NQ/TW được ban hành, và trên cơ sở Chương trình hành động của Chính phủ (Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 12/5/2023 của Chính phủ[2]), ngày 22/5/2023 Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp đã xây dựng và ban hành Chương trình hành động của Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Chương trình số 82-CTr/BCS). Bộ trưởng Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Chương trình hành động của Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW (Quyết định số 764/QĐ-BTP ngày 22/5/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).
Bám sát các nhiệm vụ trọng tâm được xác định tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 77/NQ-CP và Chương trình hành động trọng tâm của Bộ, Ngành Tư pháp, công tác nghiên cứu khoa học của Bộ, ngành được triển khai thực hiện trong năm 2023 là 35 nhiệm vụ khoa học (Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý được giao chủ trì 25 nhiệm vụ[3]). Có 16 nhiệm vụ khoa học cấp bộ đã được triển khai từ năm 2023 gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm được xác định trong Chương trình hành động của Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW.
Các nhiệm vụ khoa học được triển khai tiếp tục thực hiện sứ mệnh nghiên cứu, đề xuất mô hình, cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật, theo dõi và đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật; bảo đảm sự gắn kết giữa công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Đề xuất các giải pháp, lộ trình thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Nghị quyết số 27-NQ/TW; Nghị quyết số 77/NQ-CP cũng như Quyết định số 764/QĐ-BTP ngày 22/5/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã xác định.
Có thể điểm lại các đóng góp của khoa học pháp lý phụ vụ triển khai thực hiện các định hướng được xác định trong Nghị quyết số 27-NQ/TW trong năm 2023 qua một số nhiệm vụ khoa học tiêu biểu như:
(1) Đề tài khoa học và công nghệ độc lập cấp quốc gia “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0: Những vấn đề pháp lý cơ bản”[4]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ những khía cạnh lý luận pháp luật trong xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; kinh nghiệm quốc tế điển hình về xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và rút ra những bài học tham khảo cho Việt Nam; nhận diện thực trạng những vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh cần xử lý trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam; đánh giá thực trạng pháp luật về kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay trước yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ rõ thành tựu, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật và thực tiễn tổ chức thực thi; đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội và ứng phó với các thách thức của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong giai đoạn từ nay tới năm 2030.
(2) Đề tài “Định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2030”[5]. Kết quả nghiên cứu của đề tài này đã góp phần làm rõ những khía cạnh lý luận về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam hiện nay; thực trạng hệ thống pháp luật hiện hành ở Việt Nam, những thành tựu, hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật và thực tiễn tổ chức thực thi; bối cảnh, nhu cầu, các yếu tố chi phối đến việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2030; đề xuất những định hướng xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước trong điều kiện mới.
(3) Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định những định hướng, lộ trình cải cách tư pháp đối với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Chính phủ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”[6]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn, xác định những định hướng, đề xuất giải pháp, lộ trình cải cách tư pháp đối với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của Chính phủ nhằm triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
(4) Đề tài “Giải pháp tăng cường trách nhiệm giải trình trong hoạt động tư pháp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm giải trình trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường trách nhiệm giải trình trong hoạt động tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.
(5) Đề tài “Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”[7]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xây dựng những định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả trong bối cảnh hội nhập và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
(6) Đề tài “Giải pháp tăng cường vai trò của Chính phủ đối với quản trị nền tư pháp theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” với mục tiêu xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn, đề xuất, thiết kế các giải pháp tăng cường vai trò của Chính phủ đối với quản trị nền tư pháp theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
(7) Đề tài “Các giải pháp tăng cường giám sát của nhân dân đối với các hoạt động tư pháp theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” với mục tiêu nghiên cứu xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn, thiết kế những giải pháp tăng cường hiệu quả giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”.
(8) Đề tài “Đổi mới hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp đáp ứng yêu cầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”[8]. Đề tài được thực hiện với mục tiêu nghiên cứu xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn thiết kế những giải pháp đảm bảo nguồn nhân lực tư pháp, bổ trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
(9) Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.”[9]. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ được vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý, thị trường dịch vụ pháp lý và các khái niệm có liên quan; làm rõ vị trí, vai trò của các chủ thể tham gia và cách thức quản lý nhằm thúc đẩy thị trường dịch vụ pháp lý phát triển. Nghiên cứu tổng quan về thực trạng thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện nay và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế. Đồng thời, trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng về phát triển thị trường dịch vụ pháp lý đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong thời gian tới theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
(10) Đề tài “Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động thi hành pháp luật của chính quyền địa phương theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng”[10]. Kết quả đã làm rõ, củng cố được hệ thống lý luận để có thể nhận diện bối cảnh, yêu cầu về bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động thi hành pháp luật của chính quyền địa phương theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Qua đó, đánh giá được thực trạng bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động thi hành pháp luật của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay nhằm đề xuất được các quan điểm, giải pháp bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động thi hành pháp luật của chính quyền địa phương theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.
(11) Đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chuyển đổi số trong một số lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp”[11]. Kết quả nghiên cứu của đề tì đã làm rõ những khía cạnh lý luận về chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và trong hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp nói riêng; đánh giá thực trạng và nhu cầu chuyển đổi số trong một số lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp (tập trung vào hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật); từ đó làm rõ bối cảnh tác động, yêu cầu và các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp.
…
3. Các đóng góp của khoa học pháp lý phục vụ triển khai thực hiện các định hướng được xác định trong Nghị quyết số 27-NQ/TW
Như trên đã nêu, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý đã được Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp tin tưởng, giao chủ trì và làm đầu mối giúp Ban cán sự Đảng và Bộ trưởng trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền; về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và đổi mới nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nghà nước của Bộ, Ngành Tư pháp đã được triển khai trong thời gian qua, Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị xây dựng các chương trình, kế hoạch của Chính phủ, của Bộ triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW. Cụ thể:
(1) Giúp Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng các Bộ, ngành xây dựng và trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 12/5/2023 của Chính phủ).
(2) Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ xây dựng Chương trình hành động của Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Chương trình hành động số 82-CTr/BCS) và Chương trình hành động của Bộ Tư pháp thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW (theo Quyết định số 764/QĐ-BTP ngày 22/5/2023 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu khoa học cũng đã góp phần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua các bài viết đăng tải trên chuyên mục “Đưa Nghị quyết 27-NQ/TW vào cuộc sống” - Báo Pháp luật Việt Nam (Bộ Tư pháp); Số chuyên đề 200 trang về “Ngành Tư pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới[12]” …;
(3) Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần thể chế hóa, cụ thể hóa và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, quy định của Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền được giao và theo phân công).
Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi), Luật Thủ đô (sửa đổi), Luật Giám định tư pháp và nhiều dự thảo văn bản pháp luật khác.
(4) Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự, hoàn thiện cơ chế nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành án dân sự, hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp và trợ giúp pháp lý; cũng như phát huy vai trò của Bộ Tư pháp trong thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực hành chính tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW...
(5) Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả công tác pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế về tư pháp và pháp luật; cũng như tăng cường công tác xây dựng bộ, ngành.
4. Định hướng nghiên cứu phục vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW trong năm 2024 và các năm tiếp theo
Để tiếp tục thực hiện thắng lợi mục tiêu, trọng tâm đã được Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định, trong năm 2024 và các năm tiếp theo, định hướng nghiên cứu khoa học pháp lý cần tiếp tục được triển khai nhằm giải quyết các vấn đề mới, lý luận, then chốt gắn với chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp như:
(1) Tiếp tục nghiên cứu làm rõ về xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (theo điểm 1 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW) và nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng phát huy tốt hơn các hình thức dân chủ trực tiếp của Nhân dân (theo điểm 2 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW) - kiến nghị các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quyền của Nhân dân tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.
(2) Tiếp tục nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tổ chức các bộ, các cơ quan chuyên môn đa ngành, đa lĩnh vực; giảm hợp lý số lượng các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Tăng cường vai trò, nâng cao trách nhiệm của bộ trưởng với tư cách thành viên Chính phủ trong quản lý vĩ mô và xây dựng chính sách (theo điểm 6 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW). Đồng thời, xác định rõ vị trí, vai trò, thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ trong xây dựng pháp luật, nâng cao năng lực phản ứng chính sách (Theo điểm 6 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
(3) Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự trong trường hợp chủ thể các quyền dân sự là nhóm dễ bị tổn thương hoặc trường hợp liên quan đến lợi ích công nhưng không có người đứng ra khởi kiện (theo điểm 7 mục IV Nghị quyết số 27-NQ/TW).
(4) Tiếp tục nghiên cứu nhằm góp phần đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật và quản lý, điều hành của Bộ, Ngành Tư pháp.
Tập trung nghiên cứu các quan điểm, đường lối trong các kết luận mới đây của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về hoàn thiện pháp luật, thi hành pháp luật, cải cách tư pháp... gắn kết chặt chẽ giữa công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, đảm bảo pháp luật được thi hành nghiêm trên thực tế; đồng thời, sớm phát hiện những bất cập trong thi hành và có giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng một số hoạt động tổ chức thi hành pháp luật, trong đó lưu ý đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến của cách mạng công nghiệp lần thứ 4; tăng cường năng lực phản ứng chính sách; nâng cao ý thức tuân thủ, thượng tôn pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và các tầng lớp Nhân dân./.
Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý


