Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ kịp thời, hiệu quả nhiệm vụ của Bộ, Ngành Tư pháp
25/06/2018
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học và công nghệ ngày càng thể hiện vị trí then chốt đối với công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển khoa học và công nghệ ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đây là động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất. Điều này được hiện rõ nét tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong đó khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu...” . Trong nhiều năm qua, nhận thức rõ vấn đề này, Ban cán sự Đảng, Lãnh đạo Bộ Tư pháp luôn dành sự quan tâm, đầu tư thỏa đáng cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý. Với sự vào cuộc tích cực, chủ động, trách nhiệm với công việc chung của các nhà khoa học trong và ngoài Bộ; sự đồng sức, đồng lòng của các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động Viện Khoa học pháp lý, hoạt động nghiên cứu khoa học đã đạt được nhiều kết quả tích cực, ngày càng thể hiện đượ...
Bên cạnh đó, kế thừa và phát huy những giá trị pháp lý truyền thống, Bộ Tư pháp đã tổ chức nhiều hoạt động khoa học ý nghĩa, có giá trị áp dụng sâu rộng trong thực tiễn như nghiên cứu về Bộ luật Hồng Đức, về nghìn năm Thăng Long - Hà Nội nhìn từ góc độ pháp lý. Năm 2017, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa tổ chức thành công Hội thảo khoa học cấp Quốc gia “Cải cách pháp luật và xây dựng bộ máy nhà nước dưới triều vua Lê Thánh Tông - Những giá trị lịch sử và đương đại”. Kết quả của Hội thảo đã được Bộ Tư pháp báo cáo với Thủ tướng Chính phủ và phổ biến rộng rãi cho các bộ, ban, ngành, các cơ quan truyền thông, các cơ sở nghiên cứu, đào tạo để nghiên cứu, vận dụng tinh thần “trọng pháp”, “trọng kỷ luật, kỷ cương”, “trọng hiền tài” trong thực hiện nhiệm vụ về cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền gắn với việc xây dựng và triển khai các Nghị quyết của Trung ương Đảng về hoàn thiện thể chế; tiếp tục đổi mới, sắp xếp, tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả phù hợp với chiến lược cán bộ trong giai đoạn hiện nay.
Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, Báo cáo chính trị Đại hội XII chỉ rõ: “Đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật, gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng nền tảng đạo đức xã hội.”[1] Cùng với đó, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang tác động nhiều mặt tới đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ ứng xử chủ động, tích cực để khai thác triệt để những lợi ích mang lại, mà một trong những yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải xây dựng được hệ thống pháp luật có khả năng thích ứng cao.
Bối cảnh này đặt công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp trước những thời cơ, vận hội mới nhưng cũng đầy khó khăn, thử thách, trong đó Viện Khoa học pháp lý - đầu mối tham mưu triển khai các nhiệm vụ khoa học của Bộ cần tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp vốn có, đổi mới, sáng tạo hơn nữa, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, nêu cao tinh thần đoàn kết để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tập trung nguồn lực thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm theo định hướng sau:
Thứ nhất, chủ động nghiên cứu để phát hiện những vấn đề pháp lý phát sinh từ thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, trong đó khoa học pháp lý phải đáp ứng yêu cầu dự báo, tiếp cận được với các nền khoa học pháp lý tiến bộ trên thế giới; chú trọng công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu có trình độ chuyên môn sâu. Bên cạnh đó, cần xây dựng được cơ chế huy động tối đa nguồn “chất xám”, sự tham gia tích cực của các chuyên gia trong và ngoài Ngành để giải quyết các vấn đề cốt lõi, chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.
Thứ hai, xây dựng các nhiệm vụ khoa học phải bám sát nhiệm vụ trọng tâm của Bộ, ngành Tư pháp: Việc xây dựng kế hoạch, nhiệm vụ khoa học phải bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, chuyển hóa được các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thành hệ thống các nhiệm vụ khoa học cụ thể gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Bộ, ngành Tư pháp, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn. Để làm được điều này, công tác xây dựng kế hoạch và xác định nhiệm vụ khoa học cần được thực hiện một cách chủ động, phát huy vai trò tham mưu, tư vấn của các nhà khoa học, đặc biệt là các chuyên gia xây dựng, hoạch định chính sách.
Thứ ba, phát huy hơn nữa vai trò của công tác tổ chức nghiên cứu: Để thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tổ chức khoa học công lập, công tác tổ chức nghiên cứu khoa học hơn lúc nào hết phải thể hiện được vai trò của tổ chức nghiên cứu mang tầm chiến lược của Bộ, ngành Tư pháp.
Về giải pháp, trước hết, cần chú trọng củng cố và phát huy nhân tố con người với tầm nhìn dài hạn về nhân lực khoa học của Ngành. Bác Hồ đã từng dạy: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”[2]. Chính vì thế, việc tập trung gỡ “nút thắt” về chất lượng nhân lực tham gia hoạt động khoa học của Bộ là rất cần thiết, nhất là trong bối cảnh thời gian qua một số chuyên gia, nhà khoa học có uy tín trong các đơn vị thuộc Bộ nghỉ hưu nhưng lại thiếu lực lượng kế cận tương xứng. Việc đào tạo, bồi dưỡng nhân lực khoa học của Bộ, ngành cần có tầm nhìn toàn diện, có trọng tâm, đảm bảo có sự hiện diện trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành Tư pháp. Tới đây, việc xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học cần được thực hiện bài bản, có lộ trình phù hợp gắn với yêu cầu, đòi hỏi từ thực tiễn, tránh “khoảng trống” giữa các thế hệ. Cần nghiên cứu cơ chế ưu tiên, tạo điều kiện tối đa để Viện Khoa học pháp lý và các đơn vị trong Bộ thu hút được nhân lực có chất lượng cao, nhất là nhân lực được đào tạo bài bản tại các quốc gia phát triển, các cán bộ trưởng thành từ thực tiễn, am hiểu tình hình trong nước và quốc tế về phục vụ cho Bộ và Ngành.
Công tác nghiên cứu khoa học cũng tương tự các lĩnh vực khác, các nhà khoa học, tổ chức khoa học không thể tồn tại và phát triển đơn lẻ, mà phải có sự kết nối, liên kết và phối hợp hoạt động. Do đó, để nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học của ngành Tư pháp, cần tạo cơ chế thu hút các nhà khoa học trong và ngoài Bộ, liên kết và phối hợp giữa các đơn vị nghiên cứu khoa học cùng nghiên cứu các vấn đề pháp lý quan trọng và phức tạp mà thực tiễn của Bộ, Ngành và đất nước đang đặt ra.
Để các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu gắn kết hơn nữa với các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ, ngành Tư pháp, cơ quan tham mưu về khoa học (Viện Khoa học pháp lý) cần được tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để nắm bắt thông tin, tham gia trực tiếp vào việc triển khai các nhiệm vụ trọng tâm của Bộ, Ngành, nhất là các nhiệm vụ về xây dựng thể chế, chính sách. Các cán bộ nghiên cứu của Viện, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp và các cơ sở đào tạo khác của Bộ cần được tạo điều kiện thuận lợi trong việc tham gia các ban soạn thảo, tổ biên tập, các hội đồng thẩm định chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thẩm định các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Bản thân đội ngũ cán bộ nghiên cứu cũng phải tự mình nâng tầm để tương xứng với nhiệm vụ được giao, thể hiện được rõ vai trò phản biện, góp ý có chất lượng khi được mời tham gia xây dựng thể chế, chính sách. Viện Khoa học pháp lý cần chủ động, tích cực hơn nữa trong việc tham mưu với Lãnh đạo Bộ để có những gợi ý hoặc đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học xây dựng nên các đề tài, đề án nghiên cứu cụ thể.
Hội đồng khoa học Bộ trong những năm gần đây ngày càng thể hiện được vai trò là một thiết chế có tác động tốt trong đời sống khoa học của Bộ, ngành Tư pháp, cùng tham gia giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề khoa học phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, để nâng cao vị thế của Hội đồng khoa học Bộ, cần tăng cường hơn nữa tính chủ động trong hoạt động, phát huy tối đa vai trò, trách nhiệm của từng thành viên Hội đồng.
Về quản lý khoa học, cần đổi mới công tác quản lý khoa học theo phương châm vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức nghiên cứu khoa học, vừa tạo môi trường thông thoáng, khuyến khích các hoạt động khoa học trong Ngành với nhiều hình thức đa dạng, phong phú. Trước mắt cần sớm ban hành mới Quy chế quản lý khoa học, trong đó chú trọng việc khuyến khích công chức, viên chức tham gia nghiên cứu khoa học. Ngoài Quy chế quản lý khoa học chung của Bộ, ngành Tư pháp, các đơn vị cần có quy định tham gia hoạt động khoa học là trách nhiệm bắt buộc đối với một số vị trí việc làm để vừa phục vụ công việc, vừa nâng cao trình độ của cán bộ, đặc biệt là cán bộ trẻ. Đây sẽ là cơ sở hình thành phong trào nghiên cứu khoa học với tính lan tỏa cao trong các đơn vị thuộc Bộ. Cùng với đó, Viện Khoa học pháp lý cũng cần sớm tham mưu xây dựng cơ chế khen thưởng phù hợp cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, nhất là các cá nhân có công bố quốc tế, sớm hình thành Quỹ khen thưởng khoa học của Bộ từ các nguồn kinh phí hợp pháp, nhất là nguồn huy động từ xã hội.
Viện Khoa học pháp lý cần tập trung nghiên cứu, khẩn trương thực hiện các bước để xây dựng Viện nghiên cứu chiến lược của Bộ, ngành Tư pháp về nhà nước và pháp luật. Trong bối cảnh nhiều bộ, ngành đã có Viện nghiên cứu chiến lược để tham mưu trong việc giải quyết những vấn đề chiến lược trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng thì yêu cầu đặt ra đối với Bộ, ngành Tư pháp càng trở nên rõ ràng và cấp thiết. Để xây dựng Viện nghiên cứu chiến lược về nhà nước và pháp luật, cần sớm định dạng về tầm vóc, chức năng của Viện. Trong đó, về tầm vóc, Viện nghiên cứu chiến lược của Bộ, ngành Tư pháp không chỉ nghiên cứu các vấn đề trước mắt, trung và dài hạn, mà phải nghiên cứu những vấn đề đặt ra ở tầm quốc gia và quốc tế, mang tính dự báo khoa học cao trong hệ thống chuỗi giá trị pháp lý. Hoạt động của Viện nghiên cứu chiến lược không chỉ của một đơn vị đơn lẻ, mà phải là một trung tâm có khả năng kết nối tổ chức nghiên cứu trong cả nước và với quốc tế. Về chức năng, Viện nghiên cứu chiến lược phải đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu cơ bản kết hợp với nghiên cứu ứng dụng, không những giải mã các vấn đề của quốc gia mà còn cả những vấn đề pháp lý đặt ra với khu vực và quốc tế.
Để xây dựng Viện nghiên cứu chiến lược của Bộ, ngành Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý cần hoàn thiện Đề án để trình lãnh đạo Bộ, trong đó xác định rõ mô hình tổ chức và hoạt động, điều kiện, lộ trình tổ chức triển khai thực hiện.
Có thể khẳng định rằng, qua 35 năm xây dựng và trưởng thành, Viện Khoa học pháp lý đóng vai trò là đã có những đóng góp quan trọng, thiết thực vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính của Bộ, ngành Tư pháp nói riêng, sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc nói chung./.
[1] Đảng cộng sản Việt Nam, “Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội, 2016. Tr. 176.
[2] Sửa đổi lối làm việc - Hồ Chí Minh - Toàn tập - Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật. Hà Nội, 2011, tập 5, tr 314.
TS. Phan Chí Hiếu
Thứ trưởng Bộ Tư pháp


