Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là gì? Pháp luật quy định như thế nào về nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng?
28/05/2026
Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng quy định: Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là hoạt động cung ứng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon rừng.
Theo đó, khoản 1, 2 và 3 Điều 2 Nghị định này cũng quy định như sau:
“1. Hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là việc hấp thụ khí carbon dioxide (CO2) từ bầu khí quyển thông qua quá trình quang hợp của cây rừng và được lưu giữ trong rừng.
2. Kết quả giảm phát thải khí nhà kính của rừng là lượng giảm phát thải khí nhà kính và lượng tăng hấp thụ các-bon của rừng tại thời điểm xác định so với thời điểm tham chiếu theo tiêu chuẩn các-bon rừng trong nước hoặc tiêu chuẩn các-bon rừng quốc tế (sau đây gọi là kết quả giảm phát thải), được tính bằng tấn CO2 hoặc tấn CO2 tương đương.
3. Tín chỉ các-bon rừng là tín chỉ các-bon được cấp theo tiêu chuẩn các- bon rừng trong nước hoặc tiêu chuẩn các-bon rừng quốc tế.”
Điều 3 Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng quy định các nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng như sau:
“1. Hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.
2. Việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia.
3. Kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon thì bên cung ứng hoặc đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng không được trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác.
4. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các-bon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các-bon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) thực hiện; chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng tạo ra từ dự án các-bon rừng do chủ rừng thực hiện.
5. Nguồn tiền thu được từ trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng của chủ rừng là tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được ưu tiên hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế cho cộng đồng dân cư, xây dựng dự án các-bon rừng, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xây dựng cơ sở dữ liệu về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
6. Việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng ra thị trường quốc tế thực hiện theo quy định của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon.
7. Chủ rừng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án các-bon rừng; xây dựng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ các-bon rừng và chia sẻ kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng theo quy định của pháp luật.”


