Hành lang pháp lý mới mở đường cho nuôi biển bài bản hơn
25/05/2026
Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP Nguyễn Thị Hải Bình nói: ‘Doanh nghiệp sẽ đầu tư mạnh hơn khi họ nhìn thấy chính sách minh bạch và thị trường đủ lớn’.
Sau gần một thập niên triển khai Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nhiều cơ hội mới đã hình thành nhưng cũng xuất hiện không ít thách thức về xung đột không gian sử dụng biển, hạn chế trong cơ chế giao biển và yêu cầu chuyển đổi sang mô hình kinh tế biển xanh.
Loạt bài “Phát triển bền vững kinh tế biển” ghi nhận những chuyển động tại các địa phương ven biển, góc nhìn từ chuyên gia, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế nhằm nhận diện cơ hội, thách thức cũng như các “điểm nghẽn” thể chế trong hành trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển.
Nuôi biển - “Mỏ vàng xanh” của Việt Nam
Trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững, nuôi biển đang được nhìn nhận như một không gian tăng trưởng mới của Việt Nam. Không chỉ tạo sinh kế cho cộng đồng ven biển, nuôi biển còn mở ra cơ hội hình thành chuỗi giá trị kinh tế xanh, ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao vị thế kinh tế biển quốc gia. Tuy nhiên, để tiềm năng thực sự trở thành động lực phát triển, ngành nuôi biển cần những “đòn bẩy” đủ mạnh từ quy hoạch, chính sách và môi trường đầu tư dài hạn.
Chia sẻ về tiềm năng phát triển nuôi biển của nước ta, bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP (STP Group) khẳng định: “Nuôi biển đúng là một ‘mỏ vàng xanh’ của Việt Nam”. Nhưng giá trị lớn nhất của nuôi biển không chỉ nằm ở sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu. Giá trị lớn hơn là khả năng tạo ra một không gian tăng trưởng mới, trong đó sinh kế, môi trường, công nghệ và chủ quyền biển đảo được kết nối trong cùng một chiến lược phát triển.
Bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group. Ảnh: Hồng Thắm.
Việt Nam có lợi thế tự nhiên rất rõ. Chúng ta có hơn 3.260 km bờ biển, vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, nhiều vùng biển phù hợp với rong biển, nhuyễn thể, cá biển và các đối tượng nuôi có giá trị cao.
“Dựa trên tiềm năng ấy, chúng ta có thể xây dựng một ngành nuôi biển hiện đại, hình thành các cụm công nghiệp nuôi biển dựa trên 4 nền tảng: Hạ tầng bền vững, giống chất lượng cao, công nghệ quản trị số và chuỗi chế biến sâu”, bà Bình nhấn mạnh.
Theo bà Bình, có 5 động lực lớn nhất thúc đẩy ngành nuôi biển Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới.
Một là, nhu cầu protein xanh của thế giới. Người tiêu dùng toàn cầu ngày càng quan tâm tới thực phẩm sạch, có truy xuất nguồn gốc, phát thải thấp và thân thiện môi trường. Rong biển, nhuyễn thể và cá biển nuôi đang trở thành nguồn protein và nguyên liệu sinh học rất quan trọng, nhu cầu rong biển toàn cầu được ghi nhận trên 36 triệu tấn mỗi năm. Đây là tín hiệu thị trường rất đáng chú ý cho Việt Nam.
Hai là, áp lực phải giảm khai thác tự nhiên. Nguồn lợi ven bờ đang suy giảm. Biến đổi khí hậu, ô nhiễm biển và khai thác quá mức khiến mô hình khai thác truyền thống không còn bền vững. Nuôi biển hiện đại giúp chủ động nguồn cung, giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên và tạo sinh kế ổn định hơn cho ngư dân.
Ba là, công nghệ hạ tầng mới, đặc biệt là HDPE. Với ngành nuôi biển, hạ tầng không chỉ là cái lồng, cái phao. Hạ tầng quyết định độ an toàn, tuổi thọ mô hình, khả năng chống chịu bão gió và mức độ giảm rác thải ra biển.
Bốn là, công nghệ số và dữ liệu đại dương. Một ngành nuôi biển công nghiệp không thể vận hành bằng cảm tính. Chúng ta cần IoT để giám sát môi trường nước, AI để cảnh báo rủi ro, blockchain để truy xuất nguồn gốc, và dữ liệu số để minh bạch với thị trường quốc tế.
Và năm là, tài chính xanh và ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị). Khi thế giới quan tâm đến Net Zero, những mô hình nuôi biển giảm phát thải, hấp thụ carbon, giảm rác thải nhựa và bảo vệ hệ sinh thái sẽ có cơ hội tiếp cận dòng vốn mới. 1 ha rong sụn có thể hấp thụ khoảng 1.500 - 2.000 kg CO₂ mỗi năm và một con hàu có thể lọc tới 190 lít nước mỗi ngày. Đây là cơ sở rất quan trọng để STP Group phổ cập sâu rộng và hướng tới phát triển tín chỉ carbon xanh trong tương lai.
Bà Bình nhấn mạnh: “Ngành nuôi biển Việt Nam chỉ bứt phá khi 5 động lực này được kết nối thành một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Nếu chỉ có người nuôi mà không có doanh nghiệp chế biến, không có logistics, không có tiêu chuẩn, không có tài chính và không có thị trường, thì ngành rất khó đi xa”.
Nuôi biển phải được nhìn như một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái kinh tế biển xanh
Theo bà Bình: "Trước hết cần phải thay đổi tư duy, không được xem nuôi biển là ngành đứng bên cạnh các ngành kinh tế biển khác. Nuôi biển phải được nhìn như một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái kinh tế biển xanh".
Biển không phải là không gian vô tận. Nếu thiếu quy hoạch tổng hợp các ngành điện gió ngoài khơi, cảng biển, logistics, du lịch, bảo tồn biển và nuôi biển thì các ngành sẽ dễ chồng lấn. Nhưng nếu quy hoạch tốt, các ngành này có thể bổ trợ cho nhau.
Bà Bình dẫn chứng, một vùng nuôi biển hiện đại có thể gắn với du lịch sinh thái biển, giáo dục môi trường, trải nghiệm văn hóa ngư dân và thương mại sản phẩm địa phương. Một cụm nuôi biển công nghiệp có thể kết nối với cảng cá, logistics lạnh, nhà máy chế biến, trung tâm giống và trung tâm dữ liệu đại dương. Khi đó, nuôi biển không còn là hoạt động sản xuất đơn lẻ. Nó trở thành một cụm kinh tế biển đa giá trị.
Bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group cho rằng, một cụm nuôi biển công nghiệp có thể kết nối với cảng cá, logistics lạnh, nhà máy chế biến, trung tâm giống và trung tâm dữ liệu đại dương. Ảnh: Hồng Thắm.
Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 26/NQ-CP của Chính phủ ban hành Kế hoạch tổng thể và Kế hoạch 5 năm của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW là những định hướng chiến lược quốc gia. Nuôi biển cần được đặt đúng vị trí trong chiến lược đó, bà Bình nói thêm.
Doanh nghiệp không thể đầu tư nghiêm túc nếu thiếu hành lang pháp lý ổn định
Muốn thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nuôi biển, theo bà Bình, cần phải nhìn thẳng vào bản chất: "Nuôi biển là lĩnh vực có vốn đầu tư lớn, rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài và chịu tác động mạnh của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu. Vì vậy, doanh nghiệp không thể đầu tư nghiêm túc nếu thiếu hành lang pháp lý ổn định".
Theo đó, lãnh đạo STP Group cho rằng, cần ưu tiên 6 nhóm chính sách. Trước tiên là vấn đề quy hoạch và giao mặt nước dài hạn, đây là điều kiện tiên quyết. Nếu thời hạn ngắn, thủ tục phức tạp hoặc rủi ro chồng lấn quy hoạch, doanh nghiệp rất khó huy động vốn.
Tiếp theo là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cho nuôi biển công nghiệp. Cần sớm có quy chuẩn cho lồng HDPE, phao nổi, neo, dây, vật liệu, khoảng cách vùng nuôi, an toàn sinh học, quan trắc môi trường và truy xuất nguồn gốc.
Song song đó là ưu tiên tín dụng xanh và bảo hiểm rủi ro. Nếu không có vốn ưu đãi và bảo hiểm cho bão, dịch bệnh, môi trường, bản thân doanh nghiệp rất khó khuyến khích ngư dân chuyển đổi.
Nuôi biển là lĩnh vực có vốn đầu tư lớn, rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài và chịu tác động mạnh của thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu. Ảnh: Hồng Thắm.
Đồng thời cần hỗ trợ nghiên cứu giống và công nghệ. Giống tốt quyết định tỷ lệ sống. Công nghệ tốt quyết định năng suất và khả năng kiểm soát rủi ro.
Hơn nữa cần quan tâm đến chế biến sâu và thị trường. Nếu chỉ bán thô, ngành nuôi biển sẽ khó tạo biên lợi nhuận cao. Nuôi biển phải đi cùng chế biến, thương mại và xây dựng thương hiệu, các sản phẩm giá trị gia tăng như collagen, peptide từ cá; sản phẩm hàu chế biến; thực phẩm chức năng và vật liệu sinh học.
“Nếu những rào cản trên được tháo gỡ, tôi tin nuôi biển Việt Nam sẽ có làn sóng đầu tư mới để doanh nghiệp không đơn độc, còn người dân cũng khó chuyển đổi”, bà Bình bày tỏ.
Từ góc nhìn doanh nghiệp trực tiếp đầu tư vào lĩnh vực này, bà Bình cho rằng, với nuôi biển, điều quan trọng nhất không chỉ là được phép nuôi, mà là được đầu tư trong một môi trường pháp lý minh bạch, dài hạn.
Theo đó, trong quá trình triển khai xây dựng dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), bà Bình kỳ vọng sẽ có những thay đổi mang tính “đột phá” để mở đường cho ngành nuôi biển Việt Nam phát triển hiện đại, quy mô lớn và hội nhập quốc tế.
Thứ nhất là luật hóa quy hoạch không gian biển theo hướng đa ngành, nhưng có phân vùng rõ cho nuôi biển công nghiệp. Nuôi biển cần có vị trí chính thức trong quy hoạch biển, ngang tầm với các ngành kinh tế biển khác. Nếu không gian nuôi biển chỉ được bố trí manh mún, ngắn hạn, ngành không thể phát triển công nghiệp.
Thứ hai là cơ chế giao, cho thuê hoặc sử dụng mặt nước biển dài hạn, ổn định và có khả năng thế chấp/huy động vốn ở mức phù hợp. Đây là điểm rất quan trọng với doanh nghiệp. Khi quyền sử dụng mặt nước được xác lập rõ, doanh nghiệp mới có cơ sở lập dự án, vay vốn, đầu tư hạ tầng và chịu trách nhiệm lâu dài với môi trường.
Thứ ba là đưa tiêu chuẩn môi trường và dữ liệu số vào quản lý nuôi biển. Các chỉ số môi trường, sản lượng, mật độ nuôi, chất lượng nước, truy xuất nguồn gốc và phát thải cần được số hóa. Điều này vừa giúp Nhà nước quản lý tốt hơn, vừa giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu ESG và các tiêu chuẩn quốc tế.
Thứ tư là tích hợp cơ chế tín chỉ carbon xanh và kinh tế tuần hoàn biển. Nuôi rong biển, nhuyễn thể và mô hình đa loài có tiềm năng đóng góp cho hấp thụ carbon, cải thiện chất lượng nước và giảm áp lực khai thác tự nhiên.
Thứ năm là cơ chế phối hợp công - tư trong khai thác, bảo vệ và phục hồi tài nguyên biển. Nhà nước kiến tạo chính sách. Doanh nghiệp đầu tư và vận hành. Các viện nghiên cứu hỗ trợ khoa học. Người dân tiếp nhận đào tạo và tham gia sản xuất. Mỗi bên cần có vai trò rõ.
“Với STP Group, chúng tôi kỳ vọng hành lang pháp lý mới sẽ mở đường cho các mô hình như Vân Đồn (Quảng Ninh) được triển khai bài bản hơn. Theo lộ trình dự án, giai đoạn 2025 - 2026 sẽ thí điểm 5 ha tại Quảng Ninh; giai đoạn 2026 - 2028 mở rộng lên 300 ha; giai đoạn 2028 - 2030 hướng tới 1.000 ha; và sau năm 2030 nhân rộng ra các địa phương trọng điểm”, bà Bình kỳ vọng.
Hồng Thắm
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/hanh-lang-phap-ly-moi-mo-duong-cho-nuoi-bien-bai-ban-hon-d812393.html


