Định hướng phát triển của Viện Khoa học pháp lý trong thời gian tới
29/06/2018
Bám sát vào chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, Viện Khoa học pháp lý đang nỗ lực phấn đấu để thực sự khẳng định vị trí là Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ, Ngành Tư pháp và đến năm 2030 là tổ chức nghiên cứu có uy tín trong khu vực ASEAN về tư pháp, pháp luật và nhà nước pháp quyền. Viện là nơi thiết kế, tổ chức những diễn đàn pháp luật lớn, nơi quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành để trao đổi những vấn đề pháp lý quan trọng, cấp bách phát sinh từ thực tiễn cải cách, đổi mới đất nước.
- Tiếp tục triển khai nghiên cứu đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước của Bộ, Ngành Tư pháp, đặc biệt là làm rõ mục tiêu, định hướng phát triển và các giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, thi hành án dân sự và hành chính, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và đào tạo nhân lực pháp luật.
- Đề xuất giải pháp triển khai nhiệm vụ đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật, thu hẹp khoảng cách giữa các quy định của pháp luật trong văn bản và thực tế cuộc sống.
- Nghiên cứu, làm rõ những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, hình thành các định hướng chính sách để Bộ Tư pháp kiến nghị với Đảng và Nhà nước bổ sung, phát triển nội dung Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tư pháp, định hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với yêu cầu bảo đảm sự đồng bộ giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế.
- Chú trọng các đề tài nghiên cứu khoa học pháp lý cơ bản, góp phần phát triển nền khoa học pháp lý Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ trong các lý thuyết hiện đại về nhà nước và pháp luật ở các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng luật so sánh trong xây dựng và thi hành pháp luật ở Việt Nam, cập nhật kịp thời các xu hướng cải cách trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp của các nước trên thế giới.
Để làm được điều đó, trong thời gian tới, Viện Khoa học pháp lý sẽ thực hiện các giải pháp quan trọng sau đây:
- Bám sát Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030, chức năng, nhiệm vụ của Bộ và Ngành Tư pháp, tập trung thiết kế, xây dựng các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và mô hình nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đánh giá đúng hiện trạng, các yếu tố tác động, quy luật chi phối sự hình thành và phát triển của Bộ và Ngành Tư pháp, xây dựng các dự báo, xác định tầm nhìn trung và dài hạn về vai trò của Bộ và Ngành Tư pháp trong tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và Nhà nước pháp quyền XHCN, thiết kế, cải thiện chất lượng của hệ thống pháp luật Việt Nam để hệ thống này thực sự là nhân tố thúc đẩy tích cực quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước trong những thập niên sắp tới.
- Sớm củng cố nguồn nhân lực khoa học có chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực cơ hữu của Viện Khoa học pháp lý, tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ được giao, tương xứng với tính chất và vị thế của Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ và Ngành Tư pháp. Viện Khoa học pháp lý là đơn vị đi đầu trong việc triển khai việc xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, phấn đấu đến năm 2030 ít nhất “60% cán bộ đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”, “hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học ở những lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đạt trình độ ngang tầm khu vực và thế giới” theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Khóa XII về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.
- Đi đầu trong việc ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như công nghệ chuỗi khối (Blockchain), công nghệ dữ liệu lớn (Big Data), trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence) và kết nối vạn vật (Internet of Things) vào hoạt động nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học pháp lý. Nghiên cứu làm rõ những tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực thi hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Tăng cường thiết lập các quan hệ hợp tác trong và ngoài Bộ, Ngành Tư pháp (nhất là với các Sở Tư pháp, Cục thi hành án dân sự các tỉnh và Pháp chế các bộ, ngành cùng các Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách ở trung ương và một số thành phố trọng điểm), xây dựng và duy trì các cơ sở dữ liệu, các kho thông tin được cập nhật thường xuyên, liên tục với chất lượng cao về lĩnh vực tư pháp, pháp luật, về tình hình hoạt động của Bộ và Ngành Tư pháp phục vụ công tác tham mưu chiến lược của Viện với Lãnh đạo Bộ.
- Tích cực tham gia hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật của Bộ, Ngành Tư pháp và các bộ, ngành địa phương có liên quan, coi trọng công tác phản biện chính sách trong hoạt động của Viện.
- Tiếp tục đổi mới công tác quản trị nội bộ của Viện, chuyên nghiệp hóa hoạt động quản lý khoa học để tăng tính gắn kết giữa việc triển khai đề tài, nhiệm vụ khoa học với các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn quan trọng của Bộ và Ngành Tư pháp. Tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin khoa học pháp lý. Tạo lập và duy trì môi trường làm việc công bằng, năng động, sáng tạo và hiệu quả. Làm tốt công tác tuyển dụng, đãi ngộ, bồi dưỡng, đào tạo, luân chuyển, quy hoạch, bổ nhiệm đội ngũ cán bộ, thực hiện tốt chính sách thu hút, trọng dụng các tài năng trong nghiên cứu khoa học pháp lý.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường các giao lưu, trao đổi học thuật và trao đổi khoa học giữa Viện Khoa học pháp lý với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo pháp luật trên thế giới. Trên cơ sở thực tiễn đất nước, chủ động nghiên cứu, cập nhật, bổ sung các trường phái lý luận pháp luật hiện đại, nhất là các trường phái triết học pháp quyền hiện đại, trường phái xã hội học pháp luật, kinh tế học pháp luật, văn hóa học pháp luật và luật học so sánh. Đẩy mạnh việc công bố quốc tế các sản phẩm nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học pháp lý.
TS. Nguyễn Văn Cương
Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý


