Một số nội dung cần quan tâm trong việc xây dựng Viện Khoa học pháp lý trở thành Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ Tư pháp
29/06/2018
Trong xã hội hiện đại, tri thức khoa học là nền tảng xây dựng các quy trình, quy phạm trong sản xuất, quản lý, hình thành công nghệ, phát minh, sáng chế, ý tưởng mới về phương pháp, cách thức làm việc nhằm cải biến quá trình sản xuất, kinh doanh, quản trị, thúc đẩy xã hội phát triển. Với vai trò to lớn đó của khoa học, ngày nay, muốn trở thành một quốc gia có nền kinh tế hùng mạnh, quốc gia ấy phải có nền khoa học và công nghệ tiên tiến với hệ thống đổi mới sáng tạo có trình độ cao. Trong bối cảnh chung đó, với mỗi bộ, ngành, việc ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ vào quá trình quản trị, phát triển càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự và hành chính, bổ trợ tư pháp (hoạt động của luật sư, công chứng, giám định tư pháp, thừa phát lại v.v.), hành chính tư pháp (hộ tịch, quốc tịch và chứng...
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, mỗi quyết sách của Bộ, Ngành Tư pháp đều rất cần dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, được luận giải thấu đáo bằng nhận thức khoa học tiên tiến. Đây chính là đòi hỏi tự thân trong quá trình phát triển của Bộ và Ngành Tư pháp. Đó cũng là cơ hội để các nhà khoa học, dưới sự kết nối, tập hợp của Bộ Tư pháp thông qua đầu mối Viện Khoa học pháp lý tham gia đóng góp vào sự phát triển chung của Bộ và Ngành Tư pháp, qua đó, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.
Trong những năm qua, Lãnh đạo Bộ Tư pháp luôn quan tâm tới công tác nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện thuận lợi để Viện Khoa học pháp lý - đơn vị đầu mối nghiên cứu khoa học duy nhất của Bộ khẳng định vai trò, vị thế của mình. Sau 35 năm xây dựng và trưởng thành, vượt qua nhiều khó khăn và gian khổ, Viện Khoa học pháp lý đã tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Tư pháp tổ chức nghiên cứu hoặc trực tiếp nghiên cứu khoảng 500 đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học các cấp, cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để Bộ và Ngành tham gia vào quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013, xây dựng những đạo luật rường cột của quốc gia như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thi hành án dân sự, góp phần kiến tạo nên hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ đổi mới. Nhiều đề tài được triển khai cũng góp phần tích cực trong việc hình thành nên đường lối về cải cách pháp luật và cải cách tư pháp ở nước ta, thể hiện tập trung trong Nghị quyết số 48 và Nghị quyết số 49 (năm 2005) của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các đề tài được triển khai còn góp phần giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế về tư pháp và pháp luật, gắn với việc triển khai Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, các cam kết của Việt Nam trong WTO, trong cộng đồng ASEAN và trong các hiệp định tương trợ tư pháp.
Điểm lại chuỗi các nhiệm vụ khoa học do Viện Khoa học pháp lý trực tiếp tiến hành hoặc tham mưu tổ chức thực hiện, có thể nói, hầu hết các mảng, các lĩnh vực hoạt động của Bộ, Ngành Tư pháp đều đã có những đề tài nghiên cứu mang tính chất khai phá, mở đường, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn 30 năm đầu của thời kỳ đổi mới đất nước. Đây chính là tài sản vô giá mà Viện Khoa học pháp lý đang có để tập thể Viện tiếp tục vươn lên tầm cao mới. Kỷ niệm 35 năm thành lập Viện Khoa học pháp lý trong bối cảnh đất nước đang “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới”, nhất là bảo đảm đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập, xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại cùng nhà nước pháp quyền XHCN hiệu lực, hiệu quả dưới sự tác động ngày càng rõ nét của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình toàn cầu hóa chính là thời điểm Bộ, Ngành Tư pháp đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức mới đòi hỏi công tác nghiên cứu khoa học pháp lý cần được nâng lên một tầm cao mới về chất. Thời điểm đã chín muồi để hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ và Ngành Tư pháp chuyển từ nghiên cứu thiên về chiều rộng sang đầu tư nghiên cứu theo chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm, đẩy mạnh hội nhập. Trong bối cảnh ấy, Viện Khoa học pháp lý cần vươn lên mạnh mẽ hơn nữa để thực sự là nơi thiết kế, tổ chức những diễn đàn pháp luật lớn, nơi quy tụ các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành để trao đổi những vấn đề pháp lý quan trọng, cấp bách phát sinh từ thực tiễn cải cách, đổi mới đất nước hiện nay. Đây cũng là thời điểm chín muồi để Viện Khoa học pháp lý phấn đấu sớm trở thành Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ, Ngành Tư pháp.
Để làm được điều đó, trong thời gian tới, cần quan tâm thực hiện một số việc sau đây:
Thứ nhất, bám sát Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030, chức năng, nhiệm vụ của Bộ và Ngành Tư pháp, tập trung thiết kế, xây dựng các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu về việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và mô hình nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đánh giá đúng hiện trạng, các yếu tố tác động, quy luật chi phối sự hình thành và phát triển của Bộ và Ngành Tư pháp, xác định tầm nhìn trung và dài hạn về vai trò của Bộ và Ngành Tư pháp trong tiến trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và Nhà nước pháp quyền XHCN, thiết kế, cải thiện chất lượng của hệ thống pháp luật Việt Nam để hệ thống này thực sự là nhân tố thúc đẩy tích cực quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước trong những thập niên sắp tới.
Thứ hai, sớm củng cố nguồn nhân lực khoa học có chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực cơ hữu của Viện Khoa học pháp lý, tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ được giao, tương xứng với tính chất và vị thế của Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ và Ngành Tư pháp. Viện Khoa học pháp lý cần là đơn vị đi đầu trong việc triển khai việc xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, phấn đấu đến năm 2030 ít nhất “60% cán bộ đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế”, “hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học ở những lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đạt trình độ ngang tầm khu vực và thế giới” theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành trung ương Khóa XII về “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”.
Thứ ba, đi đầu trong việc ứng dụng những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như công nghệ chuỗi khối (Blockchain), công nghệ dữ liệu lớn (Big Data), trí thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence) và kết nối vạn vật (Internet of Things) vào hoạt động nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học pháp lý, tích cực tham mưu cho Bộ, Ngành xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp.
Thứ tư, tăng cường thiết lập các quan hệ hợp tác trong và ngoài Bộ, Ngành Tư pháp (nhất là với các Sở Tư pháp, Cục thi hành án dân sự các tỉnh và Pháp chế các bộ, ngành cùng các Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách ở trung ương và một số thành phố trọng điểm), xây dựng và duy trì các cơ sở dữ liệu, các kho thông tin được cập nhật thường xuyên, liên tục với chất lượng cao về lĩnh vực tư pháp, pháp luật, về tình hình hoạt động của Bộ và Ngành Tư pháp phục vụ công tác tham mưu chiến lược của Viện với Lãnh đạo Bộ.
Thứ năm, mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường các giao lưu, trao đổi học thuật và trao đổi khoa học giữa Viện Khoa học pháp lý với các cơ sở nghiên cứu, đào tạo pháp luật trên thế giới. Trên cơ sở thực tiễn đất nước, chủ động nghiên cứu, cập nhật, bổ sung các trường phái lý luận pháp luật hiện đại, nhất là các trường phái triết học pháp quyền hiện đại, trường phái xã hội học pháp luật, kinh tế học pháp luật, văn hóa học pháp luật và luật học so sánh. Đẩy mạnh việc công bố quốc tế các sản phẩm nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học pháp lý.
Chặng đường 35 năm xây dựng và trưởng thành, Viện Khoa học pháp lý đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Bộ, Ngành Tư pháp và nền khoa học pháp lý nước nhà. Trước yêu cầu phát triển ngày càng cao của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập dưới sự tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đã đến thời điểm chín muồi để Viện Khoa học pháp lý nâng cấp tổ chức và phương thức hoạt động, sớm trở thành Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ và Ngành Tư pháp có trình độ tiên tiến trong khu vực trong thập niên sắp tới.
TS. Lê Thành Long
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp


