Nghị định số 267/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo
19/05/2026
Ngày 14/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 267/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo (sau đây gọi tắt là Nghị định).
Nghị định số 267/2025/NĐ-CP bao gồm 07 chương, 55 điều với phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao trùm nhiều nhóm nội dung: quy định chung; chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đánh giá nhiệm vụ; xử lý tài sản, quản lý và thương mại hóa kết quả; quản trị rủi ro trong thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước; Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của bộ, ngành, địa phương; hợp tác quốc tế; và điều khoản thi hành, chuyển tiếp.
Một số nội dung trọng tâm của Nghị định số 267/2025/NĐ-CP như sau:
Thứ nhất, mở rộng cách tiếp cận về nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Nếu trước đây pháp luật chủ yếu tập trung vào các đề tài, dự án khoa học và công nghệ theo nghĩa truyền thống, Nghị định này phân biệt tương đối rõ giữa nhiệm vụ khoa học và công nghệ và nhiệm vụ đổi mới sáng tạo. Theo Điều 4, nhiệm vụ khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ và phát triển giải pháp xã hội; còn nhiệm vụ đổi mới sáng tạo bao gồm ứng dụng, chuyển giao công nghệ; đổi mới sáng tạo dựa trên đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng cao hiệu suất công nghệ; nhiệm vụ khởi nghiệp sáng tạo và các nhiệm vụ khác.
Đặc biệt, Nghị định lần đầu tiên luật hóa các khái niệm như nhiệm vụ theo hình thức liên kết, nhiệm vụ theo hình thức hợp tác công tư, nhiệm vụ trong khuôn khổ hợp tác quốc tế, nhiệm vụ giải mã công nghệ, nhiệm vụ mua bí quyết công nghệ, cụm nhiệm vụ và chuỗi nhiệm vụ. Việc xuất hiện các khái niệm này cho thấy tư duy quản lý đã thay đổi mạnh từ quản lý từng nhiệm vụ độc lập sang tổ chức các cấu trúc nhiệm vụ liên hoàn, đa chủ thể, đa nguồn lực và gắn với ứng dụng, thương mại hóa.
Thứ hai, bổ sung nhiều loại nhiệm vụ mới gắn với công nghệ chiến lược và đổi mới sáng tạo
Nghị định đặc biệt thiết kế cơ chế riêng cho nhiệm vụ giải mã công nghệ và nhiệm vụ mua bí quyết công nghệ. Đây là hai loại nhiệm vụ mới, do Nhà nước tài trợ hoặc đặt hàng nhằm nghiên cứu giải mã, làm chủ, phát triển công nghệ chiến lược hoặc tiếp nhận, sở hữu, nghiên cứu làm chủ bí quyết công nghệ; trong đó nhiệm vụ mua bí quyết công nghệ được ưu tiên phục vụ mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược. Nghị định yêu cầu các nhiệm vụ này phải đáp ứng đồng thời các tiêu chí như: công nghệ mới, chưa được làm chủ tại Việt Nam, chưa có sản phẩm hoặc bí quyết tương đương trong nước; có khả năng ứng dụng trực tiếp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc đáp ứng nhu cầu cấp bách; và phải có doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan trong nước cam kết tiếp nhận, ứng dụng hoặc khai thác kết quả.
Đây là một thay đổi có ý nghĩa chiến lược. Nếu trước đây nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu được hiểu là tạo ra tri thức hoặc giải pháp kỹ thuật, thì với Nghị định này, Nhà nước đã chính thức đặt vấn đề giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ và phát triển công nghệ chiến lược thành những loại nhiệm vụ được quản lý, đầu tư và hỗ trợ bằng khung pháp lý riêng. Điều này thể hiện rất rõ xu hướng gắn khoa học, công nghệ với năng lực tự chủ công nghệ, an ninh công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thứ ba, đổi mới cơ chế đặt hàng, tài trợ và tổ chức thực hiện nhiệm vụ
Nghị định quy định chi tiết về căn cứ, trình tự thông báo kế hoạch tài trợ và đặt hàng nhiệm vụ. Theo Điều 10, cơ quan quản lý nhiệm vụ có thể thông báo kế hoạch tài trợ, đặt hàng định kỳ hoặc đột xuất dựa trên các căn cứ như: đặt hàng của bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị - xã hội; định hướng ưu tiên hoặc yêu cầu cụ thể của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; cam kết trong hợp tác quốc tế; khả năng cân đối ngân sách và các nguồn lực hợp pháp khác; hoặc các vấn đề phát sinh từ thực tiễn quản lý, kể cả yêu cầu cấp bách, đột xuất, thiên tai, dịch bệnh, sự cố hoặc các vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đặc biệt, đối với nhiệm vụ trong khuôn khổ hợp tác quốc tế, Nghị định yêu cầu thông báo kế hoạch phải thể hiện rõ nội dung đã trao đổi, đàm phán với đối tác nước ngoài; đồng thời quy định mức hỗ trợ tối đa từ ngân sách nhà nước không vượt quá 2,5 lần giá trị đóng góp của đối tác nước ngoài, trừ trường hợp đặc biệt.
Nghị định cũng đổi mới mạnh mẽ ở yêu cầu hồ sơ đăng ký thực hiện nhiệm vụ. Thuyết minh nhiệm vụ phải thể hiện rõ tính cấp thiết, mục tiêu, nội dung, phương pháp thực hiện, kết quả dự kiến, tiến độ, năng lực tổ chức chủ trì, dự toán kinh phí, rủi ro có thể phát sinh và biện pháp quản lý, kiểm soát; đồng thời phải nêu dự kiến hiệu quả đầu ra và tác động của kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Ngoài ra, Nghị định yêu cầu nhiều loại nhiệm vụ đặc thù phải có thêm thành phần hồ sơ riêng, như: văn bản cam kết đối tác nước ngoài; phương án huy động vốn đối ứng; thuyết minh tổng quát đối với chuỗi nhiệm vụ; văn bản chứng minh hoạt động liên kết hoặc hợp tác công tư; báo cáo và tài liệu chứng minh công nghệ chưa có ở Việt Nam đối với nhiệm vụ giải mã công nghệ, nhiệm vụ mua bí quyết công nghệ; phương án chỉ định chuyên gia, phương án mua trực tiếp công nghệ, bí quyết công nghệ với giá thỏa thuận.
Thứ tư, nâng chuẩn đánh giá nhiệm vụ
Nghị định đưa ra một hệ thống khái niệm và cách tiếp cận mới về đánh giá nhiệm vụ. Theo Điều 3, ngoài đánh giá trong kỳ và đánh giá cuối kỳ, Nghị định còn xác định rõ đánh giá hiệu quả đầu ra và đánh giá tác động. Trong đó, đánh giá hiệu quả đầu ra nhằm xác định mức độ tương xứng giữa kết quả đạt được với nguồn lực ngân sách đã sử dụng, số lượng sản phẩm, giá trị khoa học, giá trị tư vấn chính sách, khả năng ứng dụng thực tiễn và đóng góp cho đổi mới sáng tạo; còn đánh giá tác động được thực hiện sau 2 đến 5 năm kể từ khi kết thúc nhiệm vụ để đo lường tác động đến phát triển kinh tế - xã hội.
Đây là điểm mới rất quan trọng cho thấy hoạt động quản lý nhiệm vụ KH,CN&ĐMST sử dụng ngân sách nhà nước không còn chỉ dừng ở việc xem nhiệm vụ có hoàn thành đúng hạn hay không, mà đã chuyển mạnh sang đánh giá chất lượng kết quả, hiệu quả sử dụng ngân sách và tác động thực tế. Về lâu dài, đó là cơ sở để tăng cường trách nhiệm giải trình, phân bổ nguồn lực theo kết quả và gắn hoạt động nghiên cứu với yêu cầu ứng dụng, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ năm, về xử lý tài sản, giao quyền và thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Nghị định quy định rõ tổ chức trung gian, môi giới được hưởng tối thiểu 10% lợi nhuận thu được từ việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo dựa trên giá trị hợp đồng thương mại hóa, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Quy định này có ý nghĩa lớn đối với việc hình thành thị trường trung gian công nghệ, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp làm dịch vụ môi giới, ươm tạo, chuyển giao, kết nối cung - cầu công nghệ. Phản ánh sự thay đổi trong tư duy pháp lý: thương mại hóa kết quả nghiên cứu không chỉ là quan hệ giữa tổ chức chủ trì và đơn vị ứng dụng, mà còn cần đến các tổ chức trung gian chuyên nghiệp để thúc đẩy giao dịch công nghệ và chuyển đổi kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh có giá trị.
Thứ sáu, cụ thể hóa cơ chế chấp nhận rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Một trong những điểm mới có tính đột phá nhất của Nghị định là Chương V về quản trị rủi ro trong thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách nhà nước. Điều 35 quy định rủi ro dẫn đến thiệt hại cho Nhà nước được chấp nhận là loại rủi ro không lường trước được, phát sinh từ bản chất của vấn đề nghiên cứu, mặc dù tổ chức, cá nhân đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định, chuẩn mực an toàn và không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật. Nghị định còn liệt kê khá cụ thể các loại rủi ro được chấp nhận, như: rủi ro do tác dụng phụ, hệ quả gián tiếp ngoài dự đoán phát sinh từ tính mới, tính phức tạp của vấn đề nghiên cứu; rủi ro về an toàn, tai nạn, sự cố, phát tán yếu tố nguy hiểm hoặc chất độc hại ra môi trường dù đã tuân thủ đầy đủ quy trình an toàn.
Nội dung trên rất có ý nghĩa đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bởi nó giúp chuyển mạnh từ tư duy “không được thất bại” sang tư duy chấp nhận rủi ro có kiểm soát, phù hợp với bản chất của nghiên cứu và phát triển công nghệ. Về thực chất, khi đã có khung quản trị rủi ro rõ hơn, tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ sẽ có điều kiện mạnh dạn hơn trong việc nghiên cứu vấn đề mới, công nghệ khó, công nghệ có độ bất định cao, thay vì chỉ lựa chọn các nhiệm vụ an toàn, ít rủi ro nhưng cũng ít khả năng tạo ra đột phá.
Tóm lại, Nghị định số 267/2025/NĐ-CP là văn bản có ý nghĩa rất quan trọng, có tác động trực tiếp, lâu dài tới việc xây dựng một hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện đại, linh hoạt và gắn chặt với phát triển công nghệ chiến lược, đổi mới sáng tạo và thị trường.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 14/10/2025. Đồng thời quy định từ ngày 01/10/2025, Nghị định số 08/2014/NĐ-CP và Nghị định số 70/2018/NĐ-CP hết hiệu lực, trừ các trường hợp chuyển tiếp theo Luật và Nghị định; một số điều của Nghị định số 88/2025/NĐ-CP cũng chấm dứt hiệu lực.
Chi tiết xem tại Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ.


