Những giá trị của khoa học pháp lý đóng góp vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam - Một góc nhìn
20/06/2018
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp 28/8/2005, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Uông Chu Lưu nhấn mạnh: “Năm 2005 chứng kiến một sự trùng hợp mang tính lịch sử và có ý nghĩa lớn lao - Kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống của ngành Tư pháp diễn ra cùng dịp với việc Bộ Chính trị thông qua hai Chiến lược quan trọng, đó là Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”. Năm năm sau đó, Kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống ngành Tư pháp, đón nhận Huân chương Sao vàng do Nhà nước trao tặng cho Ngành, tổng kết những đóng góp quan trọng của Ngành đối với công cuộc Đổi mới của đất nước, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường nhận định : “Trước tiên, đó là sự đóng góp của Ngành Tư pháp vào việc hình thành và triển khai tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp”. Trên cơ sở đề xuất của Ban cán sự Đảng Chính phủ, mà Bộ Tư pháp là cơ quan được giao trách nhiệm chủ ...
Bài viết này mong muốn góp một góc nhìn lịch sử về những luận điểm khoa học - những giá trị đích thực, cốt lõi mà nghiên cứu khoa học pháp lý của ngành Tư pháp đã đóng góp thiết thực vào việc hình thành và phát triển tư duy chiến lược của Đảng, Nhà nước về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như vào việc xác lập các giải pháp, công cụ pháp lý vận hành hiệu quả Hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà chúng ta đang xây dựng.
Luận điểm 1 - Hệ thống pháp luật của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là một hệ thống cấu trúc với Hiến pháp là đạo luật gốc, luật cơ bản và các yếu tố cấu thành: Thể chế; thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật; nguồn nhân lực pháp luật và các điều kiện bảo đảm xây dựng và thi hành pháp luật
- Đây là luận điểm khoa học nền tảng được từng bước hình thành từ các nghiên cứu khoa học trong thập kỷ 1990[2] và tiếp tục hoàn thiện trong thực tiễn hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật thời kỳ Đổi mới. Chương trình nghiên cứu khoa học pháp lý dài hạn đầu tiên (1995 - 2000) của Viện Khoa học pháp lý được Bộ Tư pháp và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phê duyệt bao gồm 05 định hướng nghiên cứu chính tập trung vào các trụ cột của hệ thống pháp luật: Xây dựng pháp luật; tổ chức và hoạt động của các thiết chế hành chính, tư pháp, bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi quản lý của ngành Tư pháp; đào tạo luật, nghề luật; thông tin, giáo dục pháp luật và nghiên cứu pháp luật quốc tế, luật so sánh[3]. Đây là cách tiếp cận mới, có tính mở đường định hướng lâu dài cho công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của ngành Tư pháp, vừa góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận về nhà nước và pháp luật vừa tập trung nghiên cứu ứng dụng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của ngành Tư pháp, trọng tâm là quản lý công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
- Ứng dụng quan trọng và sớm nhất của Luận điểm khoa học này là hình thành quan điểm chỉ đạo của Chính phủ đối với việc nghiên cứu đánh giá nhu cầu tổng thể làm cơ sở soạn thảo Chiến lược xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước khi bước vào thế kỷ 21. Bộ Tư pháp là cơ quan tham mưu, thường trực và chủ trì thực hiện theo phân công của Chính phủ.
Việc đánh giá nhu cầu và xây dựng định hướng chiến lược dựa trên phân tích nguyên nhân của các bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật và xác định các yêu cầu đặt ra từ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 đối với hệ thống pháp luật đều bao quát trên cả 04 trụ cột[4], trong đó:
+ Thể chế là trụ cột quan trọng nhất, là xương sống của hệ thống pháp luật, bao gồm không chỉ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành mà cả các nguồn luật khác được Nhà nước thừa nhận như điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, án lệ, tập quán (bao gồm cả tập quán thương mại quốc tế)…;
+ Thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật là trụ cột thứ hai, gồm các tổ chức, các cơ quan hoặc các định chế cần thiết khác để bảo đảm cho việc vận hành hệ thống pháp luật, để pháp luật được ban hành và thi hành hiệu lực, hiệu quả.
+ Nhân lực và việc đào tạo nguồn nhân lực làm công tác pháp luật, nghề luật là trụ cột thứ ba của hệ thống pháp luật, có vai trò quyết định chất lượng, hiệu quả xây dựng và thi hành pháp luật là cơ sở bảo đảm cho việc hiện thực hóa các trụ cột khác trong hệ thống pháp luật
+ Thông tin, giáo dục pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác là trụ cột thường chưa được quan tâm đầy đủ, có vai trò kết nối thể chế với thiết chế xây dựng, thi hành pháp luật cũng như kết nối các trụ cột của hệ thống pháp luật với xã hội, bảo đảm cho hệ thống pháp luật vận hành công khai, minh bạch, dễ tiếp cận trong thực tiễn xã hội với sự tham gia chủ động của cá nhân, tổ chức, các cộng đồng dân cư.
- Kết quả trực tiếp của việc ứng dụng luận điểm khoa học này là trên cơ sở của việc đánh giá nhu cầu tổng thể hệ thống pháp luật dựa trên 04 trụ cột nêu trên, Ban cán sự Đảng Chính phủ đã phối hợp cùng Đảng đoàn Quốc hội trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Mục tiêu tổng quát của Chiến lược này là: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. Theo đó, Trụ cột thứ nhất - Xây dựng và hoàn thiện thể chế được triển khai theo 06 định hướng lớn[5], 03 trụ cột còn lại được cụ thể hóa thành hai nhóm giải pháp xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật.
Đồng thời, Kế hoạch số 900/UBTVQH11 ngày 21/3/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW đã xác định rõ trong giai đoạn 2007 - 2010 cần “xúc tiến việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Hiến pháp năm 2013 - Hiến pháp của Nhà nước pháp quyền dân chủ XHCN thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đã được ban hành, tạo nền tảng hiến định cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật với hai trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường, thể chế nhà nước pháp quyền, bảo đảm, bảo vệ quyền người, quyền công dân, hội nhập quốc tế dựa trên 06 định hướng thể chế, 02 nhóm giải pháp xây dựng và thi hành pháp luật phù hợp với Nghị quyết số 48-NQ/TW và xa hơn nữa, với mục tiêu của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Có thể thấy, Hiến pháp và 04 yếu tố (thể chế; thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật; nguồn nhân lực pháp luật, thông tin pháp luật; các điều kiện bảo đảm khác) là những yếu tố có mối quan hệ nội tại, biện chứng, lôgíc và không thể tách rời nhau của hệ thống pháp luật.
- Luận điểm khoa học và cách tiếp cận mới về hệ thống pháp luật được thừa nhận và thể hiện trong các văn kiện cao nhất của Đảng và Nhà nước có tác động sâu rộng và lâu dài đến đời sống pháp luật của đất nước không chỉ trong thời gian qua mà cả trong tương lai. Các nghiên cứu khoa học phục vụ việc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW đã có lý khi đánh giá, xét trên phương diện lý luận, cách tiếp cận này, một mặt, củng cố và phát triển phương pháp luận biện chứng, lịch sử của triết học Mác xít trong nghiên cứu về nhà nước và pháp luật trong điều kiện mới; mặt khác, cho thấy sự phát triển về chất trong quan niệm về hệ thống pháp luật trong trạng thái động, không đơn thuần chỉ là hệ thống các quy phạm pháp luật tĩnh mà còn có các yếu tố bảo đảm việc vận hành pháp luật. Cách tiếp cận này đã và sẽ ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến việc khắc phục tình trạng cắt khúc giữa quá trình xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, bởi lẽ, trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, các vấn đề thể chế, thiết chế thi hành, nhân lực thực hiện và thông tin pháp luật đều được cân nhắc trong một tổng thể không tách rời. Cách tiếp cận hệ thống pháp luật này đã ngày một gần hơn với quan niệm của nhiều nước trên thế giới về hệ thống pháp luật trong quá trình hội nhập[6].
Kết luận số 01-KL/TW ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW cũng đã khẳng định tính đúng đắn, đồng thời cập nhật, cụ thể hóa 06 định hướng và 03 giải pháp thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020, trong đó nhấn mạnh một yêu cầu có tính nguyên tắc, chiến lược, đó là: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải gắn với tổ chức thi hành pháp luật; củng cố các thiết chế thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật”.
Chuẩn bị kết thúc thời kỳ Chiến lược theo Nghị quyết số 48-NQ/TW và bước sang thập kỷ thứ ba của thế kỷ 21, các nghiên cứu xác định nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2030 đã đưa ra khuyến nghị về xây dựng một nghị quyết mới có tầm nhìn dài hạn của Đảng về phát triển hệ thống pháp luật của nước ta trên cơ sở kế thừa và phát triển quan điểm khoa học về hệ thống pháp luật trong Nghị quyết số 48-NQ/TW, trong đó kiến nghị có tính tổng quát là “để pháp luật phát huy vai trò, tác dụng đích thực của mình, cần đặc biệt coi trọng và đề cao việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, do đó, bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thì cần tập trung vào việc xây dựng cơ chế tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong thời gian tới”[7].
Luận điểm 2 - Nhà nước pháp quyền XHCN mà Việt Nam đang xây dựng đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của một nền quản trị quốc gia tốt góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trước tiên, Luận điểm khoa học về sự tất yếu khách quan của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ trong quá trình phát triển của đất nước từng bước được hình thành cùng với sự nhận thức ngày một đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về Nhà nước pháp quyền thông qua các đề tài nghiên cứu được khởi động ngay từ những năm 1990[8], tăng cường trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI[9] về Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cũng như nghiên cứu phục vụ sửa đổi Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992[10]… Bên cạnh những đề tài khoa học, các đồng chí Bộ trưởng Bộ Tư pháp đồng thời là các nhà khoa học còn chủ trì các nghiên cứu chuyên đề về Nhà nước pháp quyền, về hệ thống pháp luật và tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam do Hội đồng lý luận trung ương hoặc Ban Bí thư phân công[11] phục vụ trực tiếp việc soạn thảo các Văn kiện Hội nghị Trung ương và Đại hội Đảng các khóa IX, X, XI.
Bằng kết quả của các nghiên cứu trên, các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã được nhận diện với những giá trị chung mang tính phổ biến của nhân loại về một nền pháp quyền dân chủ cùng với những giá trị riêng phản ánh đặc thù của pháp quyền Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong xu thế hội nhập quốc tế[12]. Cùng với giới nghiên cứu khoa học chính trị, khoa học pháp lý của cả nước, những kết quả nghiên cứu của ngành Tư pháp đã đóng góp phần không thể phủ định trong việc hình thành đường lối, chủ trương của Đảng về đổi mới bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đường lối đó không chỉ thể hiện trong quan điểm, phương hướng của Nghị quyết Đại hội Đảng theo nhiệm kỳ (từ Đại hội Đảng IX) mà việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN còn được khẳng định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) như một quá trình tất yếu khách quan, không thể đảo ngược trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ các văn kiện của Đảng, Nhà nước pháp quyền XHCN lần đầu tiên trở thành một chế định tại Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và được hoàn thiện tiếp một bước tại Hiến pháp năm 2013, tạo nền tảng pháp lý cho việc cải cách cơ bản tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo các nguyên tắc pháp quyền trong cả ba nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp một cách đồng bộ, theo những mục tiêu dài hạn với những giải pháp, bước đi, lộ trình phù hợp[13].
Thứ hai, luận điểm về đòi hỏi tất yếu, khách quan của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả trong Nhà nước pháp quyền dân chủ XHCN. Một hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả là đòi hỏi khách quan và cũng là điều kiện tiên quyết của Nhà nước pháp quyền dân chủ xuất phát từ đặc trưng về tính thượng tôn của Hiến pháp, pháp luật trong việc tổ chức toàn bộ đời sống kinh tế xã hội của Nhà nước pháp quyền XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Không thể có Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nếu như Nhà nước chưa được tổ chức và hoạt động trên nền tảng của một hệ thống pháp luật có thể mang lại công lý, tự do và dân chủ[14].
Trên cơ sở của phương pháp luận tiếp cận hệ thống pháp luật như đã nêu ở luận điểm 1, các nghiên cứu khoa học pháp lý trong những năm gần đây đã tập trung vào xác định các tiêu chí chất lượng của một văn bản pháp luật[15], của hệ thống văn bản pháp luật[16] và tiêu chí hiệu quả của thi hành pháp luật[17] nhìn từ các góc độ pháp luật, xã hội, lịch sử và văn hóa[18]. Những kết quả nghiên cứu này đã từng bước được ứng dụng trong việc soạn thảo các văn bản pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật do Bộ Tư pháp chủ trì trình Quốc hội, Chính phủ ban hành (các Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vào các năm 1996, 2008, 2015; Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi thi hành pháp luật....), vì đây chính là cơ sở pháp lý cho việc chuẩn hóa các hoạt động xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật theo các tiêu chí hiệu lực, hiệu quả.
Thứ ba, nhận thức về hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật trong Nhà nước pháp quyền hiện đại phải gắn với một nền quản trị quốc gia tốt đang trong quá trình xác lập thông qua các hoạt động nghiên cứu gần đây[19]. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII xác định: “Trong những năm tới, đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”[20].
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế những năm gần đây, khi áp lực cạnh tranh toàn cầu ngày càng lớn, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt vấn đề nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước mà bản chất là hiệu lực, hiệu quả công tác quản trị, điều hành quốc gia, trong đó, nội dung trọng yếu là xây dựng một hệ thống pháp luật tốt, được thực thi nghiêm túc là một trong những ưu tiên có tính chiến lược[21]. Các quốc gia đã nhận thức ngày một rõ hơn một thực tế là trong cuộc hội nhập và cạnh tranh toàn cầu về các cơ hội và nguồn lực phát triển, sự thành, bại của mỗi quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng của nền quản trị quốc gia. Nói ngắn gọn theo Liên hợp quốc thì quản trị quốc gia tốt là quản trị dân chủ và tuân theo nguyên tắc pháp quyền đáp ứng 08 tiêu chí cơ bản sau trong quá trình Nhà nước ra và thực thi các quyết định: (i) Có sự tham dự rộng rãi của các chủ thể có lợi ích liên quan; (ii) Hướng tới sự đồng thuận xã hội; (iii) Chịu trách nhiệm trước công chúng và trước các chủ thể có lợi ích liên quan; (iv) Minh bạch; (v) Có tính ứng phó cao; (vi) Hiệu lực và hiệu quả; (vii) Công bằng; (viii) Tuân theo nguyên tắc pháp quyền (tính tối thượng của Hiến pháp, luật)[22]. Quản trị quốc gia tốt đòi hỏi tính minh bạch, tính chịu trách nhiệm/giải trình của cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực công cũng như trong việc quản lý, sử dụng tài sản công.
Trong nền quản trị quốc gia tốt, hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả là một bộ phận cấu thành thiết yếu. Quan hệ giữa hệ thống pháp luật và quản trị quốc gia là quan hệ biện chứng hai chiều, một mặt hệ thống pháp luật là công cụ chủ yếu để thực thi các bộ phận khác của quản trị quốc gia, mặt khác, việc làm ra và thực thi hệ thống pháp luật phải tuân thủ các nguyên tắc của quản trị quốc gia tốt. Đó là hệ thống pháp luật bao gồm không chỉ các thể chế - quy tắc, “luật chơi” chính thức điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong xã hội[23] mà còn bao gồm cả những chủ thể (thiết chế, con người) vận hành hệ thống ấy (dù đó là thiết chế lập pháp, thiết chế hành pháp hay thiết chế tư pháp, kể cả các thiết chế xã hội liên quan) và các điều kiện bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống pháp luật ấy (chẳng hạn như tri thức, kỹ năng, nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, hệ thống thông tin - truyền thông…). Do đó, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật đáp ứng đòi hỏi của quản trị quốc gia tốt trong Nhà nước pháp quyền phải được xác định bằng những tiêu chí phản ánh được sự gắn kết hữu cơ, thống nhất về mục tiêu, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật trên văn bản được vận hành trong thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội. Các tiêu chí đó phải được cụ thể hóa thành các chỉ số đo lường sự đánh giá của các chủ thể là đối tượng chịu tác động trực tiếp hay gián tiếp của hệ thống pháp luật (doanh nghiệp, người dân, các tổ chức xã hội và các chuyên gia) về năng lực hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật của Chính phủ, cũng như sự tôn trọng và tuân thủ của người dân và nhà nước đối với những thể chế chi phối các quan hệ kinh tế, xã hội. Tham khảo Bộ chỉ số quản trị toàn cầu năm 2014, trong số 06 nhóm chỉ số chất lượng thể chế của Việt Nam được xếp hạng thì: 02 nhóm chỉ số đạt mức trung bình của các quốc gia (ổn định chính trị và hiệu lực của chính quyền trong hoạch định và thực thi chính sách cung cấp dịch vụ công); 02 nhóm chỉ số đạt mức tương đương các quốc gia thu nhập trung bình thấp (thượng tôn pháp luật và kiểm soát tham nhũng); 02 nhóm chỉ số ở mức rất thấp so với các nước có thu nhập trung bình thấp (chỉ số trọng lượng tiếng nói của người dân và trách nhiệm giải trình của chính quyền; chỉ số chất lượng hoạch định và thực thi chính sách điều tiết kinh doanh, phát triển khu vực tư nhân)[24]. Điều đó cho thấy, còn nhiều rào cản, bất cập của hệ thống pháp luật nước ta để đáp ứng các yêu cầu của một Nhà nước pháp quyền mạnh, hiệu lực, hiệu quả, trong đó, đặc biệt đáng lưu ý là tính dân chủ, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, công chức trong việc xây dựng và thi hành chính sách, pháp luật.
Luận điểm 3 - Để có hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả cần có các công cụ pháp lý để kiểm soát việc thực hiên quyền lực công trong hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật
- Quan điểm khoa học về sự cần thiết phải có các công cụ pháp lý để chuẩn hóa quá trình xây dựng pháp luật đã hình thành trong những nghiên cứu khoa học được thực hiện từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước[25] và được ứng dụng trong việc xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 - đạo luật đầu tiên về làm luật của nước ta, xác lập thẩm quyền, quy trình, thủ tục soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng như quy trình thực hiện các hoạt động liên quan như rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật…
Bước vào thập kỷ đầu những năm 2000, thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, một chương trình nghiên cứu quy mô, toàn diện về đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật[26] đã được triển khai, góp phần hình thành những luận điểm khoa học về phân công, phân cấp, ủy quyền trong hoạt động lập pháp, lập quy giữa Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương; về dân chủ hóa quy trình xây dựng pháp luật với sự tham gia, giám sát và phản biện của chuyên gia, người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội… Một trong những ứng dụng quan trọng của các kết quả nghiên cứu này là việc xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, góp phần thiết lập trật tự trong hoạt động xây dựng pháp luật của chính quyền địa phương.
Từ sau năm 2005, triển khai định hướng về đổi mới hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW, nhiều nghiên cứu hướng tới áp dụng các phương pháp, kỹ năng lập pháp hiện đại đã được triển khai[27], trong đó phải kể đến những giá trị nổi bật đã được thừa nhận và được “luật hóa” trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, đó là: Đưa phương pháp đánh giá dự báo tác động của văn bản quy phạm pháp luật (RIA) vào quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật; việc xây dựng các Bộ pháp điển quy phạm pháp luật theo chủ đề, góp phần hình thành ở Việt Nam tư duy và kỹ năng lập pháp hiện đại, từng bước tiệm cận tới các chuẩn mực được thừa nhận chung trên thế giới, góp phần nâng cao chất lượng, cải thiện một bước tính khả thi, tính dễ tiếp cận, dễ sử dụng của hệ thống pháp luật nước ta.
Đồng thời, theo quan điểm, định hướng của Nghị quyết số 48-NQ/TW về hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở gắn kết giữa xây dựng và thi hành pháp luật, từ những năm 2010 trở lại đây, đặc biệt là sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, các nghiên cứu khoa học đã tập trung hơn vào việc phát triển, hoàn thiện các công cụ pháp lý nhằm kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật[28]. Những kết quả nghiên cứu cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nguyên tắc giới hạn quyền lực nhà nước và nguyên tắc đảm bảo dân chủ trực tiếp với quyền tham gia, phản biện xã hội của cá nhân, tổ chức trong quy trình xây dựng và thi hành chính sách, pháp luật[29] đã được tiếp thu và chuyển hóa một bước quan trọng vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Với quy định việc xây dựng chính sách phải đi trước và bắt buộc thực hiện đánh giá tác động của chính sách, Luật yêu cầu các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong từng khâu, từng đoạn đều có trách nhiệm giải trình và minh bạch hóa lý do, mục tiêu, cách thức sử dụng các nguồn lực công và những lợi ích cho người dân, cho doanh nghiệp, cho nhà nước và xã hội cần đạt được trên những chi phí đã bỏ ra để ban hành và thực thi mỗi chính sách, văn bản pháp luật do mình đề xuất.
Đó chính là tư duy và kỹ năng lập pháp hướng theo mục tiêu, kết quả dựa trên bằng chứng thực tiễn - một giá trị khoa học đóng góp rất thiết thực cho việc thiết lập mô hình xây dựng và thi hành pháp luật hiệu lực, hiệu quả ở Việt Nam. Chính tư duy và kỹ năng này cũng đã khơi nguồn động lực cho sự chuyển biến tích cực trong định hướng và nội dung nghiên cứu về tổ chức thi hành pháp luật trong thời gian qua[30] để phát triển các công cụ nhằm kết nối đồng thời kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong chu trình tổ chức thi hành pháp luật, mà Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp và hệ thống cơ quan hành chính nhà nước giữ vai trò then chốt, nhằm góp phần “bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tính liên thông, gắn kết mật thiết giữa công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật”[31].
Với vị trí và trách nhiệm của cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, từ những kết quả nghiên cứu đã và đang thực hiện, Bộ Tư pháp đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật giai đoạn 2018 - 2022”. Đề án có mục tiêu chung là triển khai thực hiện một số giải pháp cơ bản nhằm từng bước khắc phục bất cập trong công tác tổ chức thi hành pháp luật, tạo tiền đề cho sự chuyển biến mạnh mẽ, đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hệ thống pháp luật[32].
Nhìn lại chặng đường dài với nhiều khó khăn, thách thức cả về tư duy, năng lực và bản lĩnh của những người làm nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học chính trị - pháp lý thời kỳ chuyển đổi kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, đã có những thành quả thiết thực nhưng cũng không ít thất bại, dở dang, cho đến hôm nay, có thể khẳng định, công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của ngành Tư pháp bằng những giá trị khoa học mang tính ứng dụng cao, đã góp phần xứng đáng vào việc xây dựng, thực thi và tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hiệu lực, hiệu quả hơn, đáp ứng ngày một tốt hơn các yêu cầu của một nền quản trị quốc gia tốt theo các nguyên tắc dân chủ và pháp quyền vì mục tiêu mà Cương lĩnh của Đảng đã cam kết theo đuổi - Dân giàu, Nước mạnh, Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.
[1] Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 20/01/2014 của Bộ Tư pháp.
[2] Các đề tài: PTS. Nguyễn Niên, Những vấn đề lý luận về xây dựng và thực hiện pháp luật trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, 1991; Nguyễn Văn Thảo, Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng cơ chế bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật và tính hợp pháp của các văn bản hành chính, 1991; PTS. Dương Đăng Huệ, Cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật kinh doanh, 1991; PTS. Uông Chu Lưu, Một số căn cứ lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, 1992; NCS. Dương Thị Thanh Mai, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tuyên truyền pháp luật trong công cuộc đổi mới, 1992...
[3] Các đề tài: TS. Nguyễn Đức Tuấn, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phục vụ xây dựng Bộ luật Hình sự (sửa đổi), 1995; TS. Uông Chu Lưu, Căn cứ lý luận của việc phân định thẩm quyền và trình tự ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, 1996; Nguyễn Đức Giao, Mối quan hệ tập quán và thực tiễn xét xử với việc xây dựng và thực hiện pháp luật tại Việt Nam, 1998; TS. Hoàng Thế Liên, Cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán ở Việt Nam, 1998; TS. Dương Đăng Huệ, Nghiên cứu giải pháp chống xu hướng hình sự hóa các giao dịch dân sự, 2000; TS. Nguyễn Ngọc Hiến, Xây dựng mô hình quản lý ngành Tư pháp, 1996; Nguyễn Văn Sản, Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý Thẩm phán Tòa án địa phương, 1999; TS. Nguyễn Đức Chính, Những cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định thừa phát lại, 1995; NCS. Tạ Thị Minh Lý, Mô hình tổ chức và hoạt động trợ giúp pháp lý, phương hướng thực hiện trong điều kiện hiện nay, 1998; TS. Trần Thất, Lý lịch Tư pháp - Thực trạng phương hướng tổ chức, quản lý và hoạt động trong điều kiện mới, 1999; PGS.TS. Lê Hồng Hạnh, Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng chương trình giảng dạy môn luật so sánh tại Trường Đại học Luật Hà Nội, 1999; TS. Phan Hữu Thư, Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng tập hệ thống hóa các vụ án điển hình làm tài liệu giảng dạy trong việc đào tạo Thẩm phán, 2000; PTS. Hà Hùng Cường, Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật, 1995; TS. Dương Thj Thanh Mai, Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN và WTO với việc hoàn thiện pháp luật và hệ thống Tư pháp Việt Nam, 1998; PGS.TS. Hà Hùng Cường, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ký kết và thực hiện thương mại, đầu tư quốc tế có yếu tố nước ngoài mà một bên tranh chấp là Nhà nước Việt Nam; TS. Hoàng Phước Hiệp, Nghiên cứu Quy chế cấp ý kiến pháp lý đối với các khoản vay theo hợp đồng,.
[4] TS. Uông Chu Lưu, Mục tiêu, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong thập niên đầu của thế kỷ XXI và nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam, Bài phát biểu tại Tọa đàm: “Các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội tác động đến nhu cầu phát triển hệ thống pháp luật của Việt Nam” tại Hà Nội trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu đánh giá nhu cầu phát triển hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày 06/6/2001 (Lưu trữ Bộ Tư pháp).
[5] Sáu định hướng xây dựng và hoàn thiện thể chế theo Nghị quyết số 48-NQ/TW gồm: (i) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (ii) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; (iii) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; (iv) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội; (v) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; (vi) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hội nhập quốc tế.
[6] TS. Nguyễn Văn Hiển, Nhận diện quan niệm về hệ thống pháp luật trong Nghị quyết số 48-NQ/TW và việc ứng dụng vào hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật, 2012; TS. Nguyễn Mạnh Cường, Nghiên cứu đánh giá khoa học về kết quả 10 năm thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam (Nghị quyết số 48-NQ/TW), 2015.
[7] TS. Nguyễn Văn Cương, Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xác định nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2030- 2015.
[8] TS. Nguyễn Đình Lộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân, Đề tài cấp Nhà nước KX 02. 13, 1992; Nguyễn Văn Yểu, TS. Nguyễn Đình Lộc, Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam, Đề tài cấp Nhà nước KX. 92-98-353; Nguyễn Văn Thảo, Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy lập pháp, hành pháp, tư pháp ở nước ta gắn với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN (đề tài cấp Nhà nước); TS. Nguyễn Văn Cương, Nghiên cứu tổng kết ba mươi năm về nhận thức lý luận hệ thống chính trị, nhà nước pháp quyền và dân chủ xã hội chủ nghĩa, 2013.
[9] TS. Uông Chu Lưu, Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, mã số: KX .04.06, thuộc Chương trình cấp Nhà nước KX04 về Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân); TS. Nguyễn Đình Lộc, Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới (đề tài cấp Nhà nước).
[10] PGS.TS. Hoàng Thế Liên, Cơ sơ lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp (góp phần sửa đổi Hiến pháp 1992), năm 2001; TS. Tô Văn Hòa, Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN, 2010; GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp năm 1992 về Chế độ kinh tế phù hợp tình hình mới, 2011; TS. Dương Thanh Mai, Mô hình tổ chức quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp 1946 - những giá trị lịch sử và đương đại, 2011; TS. Nguyễn Văn Cương, Phân công quyền lực giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam - Lịch sử, lý luận và thực tiễn; PGS.TS. Thái Vĩnh Thắng, Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử ở Việt Nam hiện nay, 2012; ThS. Nguyễn Thị Hạnh, Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chế định Chính phủ trong Hiến pháp năm 1992, 2012.
[11] Bộ trưởng Uông Chu Lưu thực hiện chuyên đề về “Quyền tư pháp và cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN” trong Tài liệu chuyên khảo “Tổng kết 20 năm xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn Yểu chủ trì trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu của Hội đồng tổng kết lý luận “20 năm thực hiên đường lối đổi mới” (2003 - 2004); thực hiện chuyên đề “Mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” trong Sách “Xây dựng Nhà nước Việt Nam thời kỳ đổi mới” do Hội đồng lý luận Trung ương chủ trì soạn thảo, 2005.
Bộ trưởng Hà Hùng Cường chủ trì nghiên cứu chuyên đề “Cơ chế phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động hành pháp” thuộc Chương trình “Nghiên cứu xây dựng cơ chế phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp” do Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa X giao cho Đảng đoàn Quốc hội chủ trì để thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X; chuyên đề về “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” (năm 2010) do Ban Bí thư Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2007 - 2011 giao cho Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp thực hiện phục vụ việc hoàn thiện dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng XI.
[12] Đó là các đặc trưng: (i) Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; (ii) Quyền lực nhà nước là thống nhất, do Nhân dân ủy quyền cho Nhà nước thực hiện thông qua Hiến pháp, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; (iii) Tính tối thượng của Hiến pháp; (iv) Tư pháp xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật; (v) Nhà nước tôn trọng và bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân; (vi) Nhà nước pháp quyền XHCN được xây dựng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của xã hội dân sự hài hòa, đồng thuận; trách nhiệm giải trình của Nhà nước trong việc bảo đảm xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, trong đó, mọi người dân thực sự có quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; (vii) Nhà nước tôn trọng và tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; (viii) Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền XHCN.
[13] Cải cách lập pháp theo Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005); cải cách hành chính theo các Chương trình tổng thể Cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ; cải cách tư pháp theo Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005).
[14] PGS.TS. Hà Hùng Cường, Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18 (139- 140), 01/2009.
[15] Các tiêu chí chất lượng của một văn bản pháp luật: Tính hợp hiến, hợp pháp; tính phù hợp (nội dung, phạm vi điều chỉnh phù hợp với thực tiễn, với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa), tính hợp lý (bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc thi hành luật); tính công bằng, bình đẳng; tính khả thi (phù hợp với trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện); phù hợp về hình thức văn bản và thẩm quyền ban hành, diễn đạt chuẩn xác; cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng.
[16] Các tiêu chí hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật: Đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch; tính ổn định; tính không hồi tố (trừ khi hồi tố có lợi cho các chủ thể liên quan) của pháp luật; tính công bằng và dân chủ; thể chế hóa đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
[17] TS. Nguyễn Văn Cương, Nghiên cứu xây dựng Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả thi hành pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2015. Đề tài đã đưa ra Bộ chỉ số bao gồm 06 chỉ số thành phần sau đây: (i) Chỉ số đánh giá hiệu quả ban hành văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật; (ii) Chỉ số đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; (iii) Chỉ số đánh giá hiệu quả công tác tổ chức bộ máy, quản lý biên chế, nhân sự, quản lý ngân sách và tài sản công; (iv) Chỉ số đánh giá hiệu quả xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai các quy định pháp luật; (v) Chỉ số đánh giá hiệu quả công tác cấp phép, cấp giấy chứng nhận; (vi) Chỉ số đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân và tổ chức.
[18] TS. Dương Thị Thanh Mai, Thế chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, 2007 (thuộc Chương trình cấp Nhà nước về Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội; PGS.TS. Nguyễn Văn Động, Giá trị xã hội của pháp luật trong bối cảnh chính trị, xã hội, văn hóa và truyền thống Việt Nam, 2010; GS.TS. Lê Minh Tâm, Văn hoá pháp luật Việt Nam - Từ lý luận đến thực tiễn (thuộc Chương trình cấp Nhà nước), 2010; TS. Nguyễn Văn Cương, Cải cách pháp luật và xây dựng Bộ máy nhà nước dưới triều vua Lê Thánh Tông - Những giá trị lịch sử và đương đại, 2017.
[19] PGS.TS. Hà Hùng Cường, Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật của cơ quan nhà nước đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; 2010; GS.TS. Hoàng Thế Liên, “Thể chế hiện đại và Nhà nước hiệu quả” trong Báo cáo “Việt Nam 2035 - Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” do Ngân hàng thế giới và Bộ Kế hoạch, Đầu tư chủ trì, 2016.
[20] Điểm 2 Mục 14 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, 2017.
[21] Adrienne Heritier and Martin Rhodes (eds.), New Modes of Governance in Europe: Governing in the Shadow of Hierarchy (New York: Palgrave Macmillan, 2011) at x.
[22] “What is Good Governance?”, http://www.unescap.org/pdd/prs/ProjectActivities/Ongoing/gg/governance.asp.
[23] Tất nhiên, hệ thống pháp luật chỉ là một nguồn cho các luật chơi của xã hội. Bên cạnh pháp luật, hành vi của các chủ thể trong xã hội còn bị chi phối bởi hàng loạt các luật chơi khác, đôi khi là ngầm định (không công khai), như các quy tắc đạo đức, quy tắc nội bộ, quy tắc tôn giáo… Các “luật chơi” này không chỉ giản đơn đóng vai trò thúc đẩy để pháp luật mang lại hiệu quả hữu ích mà nhiều trường hợp, các luật chơi phi quan phương có thể cản trở, bóp méo, khúc xạ đường truyền thông điệp của pháp luật, khiến cho pháp luật không còn được truyền theo thường thẳng mà có thể sẽ di chuyển theo quỹ đạo cong, méo hoặc kiểu như ma trận.
[24] Báo cáo tổng quan Việt Nam 2035 - Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ do Ngân hàng thế giới và Bộ Kế hoạch, Đầu tư chủ trì, 2016, trang 93 – 98.
[25] TS. Hoàng Thế Liên, Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc hệ thống hóa pháp luật trên cơ sở biên tập tổng mục lục văn bản pháp luật từ năm 1975 đến năm 1992, 1993; TS. Uông Chu Lưu, Căn cứ lý luận của việc phân định thẩm quyền và trình tự ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, 1995; Một số cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới quy trình nâng cao chất lượng xây dựng Luật - Pháp lệnh, 1995; TS. Uông Chu Lưu, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền, thủ tục, trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.
[26] Theo Quyết định số 909/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
[27] TS.Lê Hồng Sơn, Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác rà soát, hệ thống hóa góp phần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, 2007; TS. Dương Thanh Mai, Nâng cao chất lượng thẩm định của Bộ Tư pháp đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo Điều ước quốc tế, 2008; Viện Khoa học pháp lý, Các biện pháp nâng cao chất lượng thẩm định của pháp chế bộ, ngành đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Nhóm Hội thảo khoa học: Hội thảo về xây dựng chính sách trong hoạt động lập pháp; Hội thảo về phương pháp đánh giá tác động kinh tế - xã hội của một đạo Luật (trước và sau khi ban hành). Nhóm các đề tài cơ sở của Viện Khoa học pháp lý năm 2009: Nhận diện các đặc trưng của quy phạm pháp luật; Xác định tiêu chí phân loại thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính; Cơ chế tiếp nhận, xử lý và phản hồi ý kiến của nhân dân về những hoạt động trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp mà Ngành Tư pháp chịu trách nhiệm thực hiện hoặc quản lý. Nhóm các đề tài của Tư pháp địa phương: Nâng cao chất lượng thẩm định của cơ quan Tư pháp địa phương đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (TP. Hồ Chí Minh; Hải Phòng, Đà Nẵng, Lào Cai).
[28] TS. Lê Thành Long, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật “thống nhất”, 2011; TS. Dương Thanh Mai, Đánh giá tác động của chế định “RIA” trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, 2011 - 2012; TS. Lê Hồng Sơn, Giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo đảm nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, 2011; ThS. Trần Diện, Hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền điạ phương, nhìn từ thực tiễn của Vĩnh Phúc, 2011; GS.TS. Lê Hồng Hạnh, Nghiên cứu mô hình xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kì CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, 2011.
[29] PGS.TS. Nguyễn Minh Đoan, Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam hiện nay, 2014; TS. Tô Văn Hòa, Ủy quyền lập pháp - Thực tiễn quốc tế và cơ chế thực hiện trong điều kiện của Việt Nam, 2014; ThS. Cao Xuân Phong, Lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, 2015; Viện Khoa học pháp lý, Nghiên cứu xây dựng hệ tiêu chí kiểm soát chất lượng các đề nghị xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay, 2016; TS. Nguyễn Văn Cương, Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, 2016; TS. Nguyễn Văn Hiến, Nguyên tắc về quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong Hiến pháp năm 2013 và những vấn đề pháp lý đặt ra, 2016.
[30] TS. Nguyễn Kim Thoa, Hoàn thiện pháp luật về ban hành quyết định hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, 2009 ThS. Lê Thiều Hoa, Pháp luật về hoạt động giám sát xã hội và phản biện xã hội tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, 2012; TS. Phạm Hồng Quang, Trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, 2013; TS. Nguyễn Văn Hiển, Thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ theo Hiến pháp sửa đổi năm 2013, 2014; Nguyễn Văn Hiển, Nghiên cứu mô hình thiết chế quốc gia bảo vệ quyền con người của một số nước trên thế giới và đề xuất mô hình ở Việt Nam, 2015; TS. Đặng Vũ Huân, Tăng cường vai trò của thiết chế truyền thông trong bảo vệ quyền con người và quyền công dân ở Việt Nam, 2015; PGS.TS. Hoàng Thế Liên, Cơ chế tổ chức thi hành pháp luật - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, 2016; ThS. Đặng Thanh Sơn, Hoàn thiện cơ chế tổ chức theo dõi thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay, 2017; TS. Đồng Ngọc Ba, Đổi mới công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật góp phần nâng cao hiệu quả, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
[31] Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 04/02/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.
[32] Điểm a Mục I.1 Điều 1 Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 26/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ.
TS. Dương Thị Thanh Mai
Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý


