Trưởng thành cùng nhịp phát triển của viện khoa học pháp lý
04/07/2018
Đến năm 2003, tôi rời Viện để nhận nhiệm vụ mới là Thứ trưởng Bộ Tư pháp. Trong suốt thời gian trên cương vị Thứ trưởng, rồi Thứ trưỏng thường trực (2003-2014), một điều may mắn là tôi luôn luôn được phân công giúp Bộ trưởng chỉ đạo nhiều lĩnh vực công tác, trong đó có lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý, trực tiếp phụ trách Viện. Như vậy, tôi có đến 21 năm gắn bó, lăn lộn với biết bao nhiêu trăn trở về khoa học pháp lý, về Viện, trưởng thành theo nhịp phát triển của Viện.
Năm 2018 này, Viện kỷ niệm sinh nhật lần thứ 35 gợi nhớ bao ký ức trong tôi, có vui có buồn, có yên ả và sóng to, có thăng hoa và lắng đọng. Nhưng bền lâu và lắng sâu trong ấn tượng sâu sắc của tôi và có thể của nhiều người là ở Viện vui lắm, chan chứa tình người, làm việc hết mình mà chơi cũng chẳng kém đời một phân. Có những lúc sức ép về thời gian, khối lượng, chất lượng công việc làm cho cả Viện quay cuồng như thời chiến, ai ai cũng cố gắng đến mức cao nhất, không kể giờ giấc. Rồi khi kết quả công việc được lãnh đạo Bộ chấp nhận hoăc đánh giá cao niềm vui như vỡ oà, ai nấy đều phấn chấn, cả Viện hè nhau đi liên hoan cơm bụi, rồi đi hát để xả hết nỗi nhọc nhằn và chuẩn bị đón đợt sóng công việc mới. Cứ thế theo dòng thời gian mà Viện, lớp lớp anh em trong Viện cứng cáp, trưởng thành dần lên trong ấm áp của tình bạn bè, đồng nghiệp, trong sự khắc nghiệt của công việc. Có lẽ nhờ vậy mà nhiều cán bộ của Viện đã trở thành những nhân vật có vị thế cao trong khoa học pháp lý, trong quản lý, trong hoạt động chính trị. Họ là những người nhờ Viện mà thành danh, nhưng Viện cũng nhờ họ mà rạng danh hơn.
2. Ai đã từng ở Viện chắc sẽ khó quên những đóng góp lớn và nhiều mặt của Viện vào việc thực hiện những nhiệm vụ đầy thách thức, có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển của đất nước mà Đảng, Chính phủ giao cho Bộ, ngành Tư pháp. Những đóng góp đó là đáng kể, xứng đáng để nhớ và tự hào. Tôi tin là Viện sẽ có báo cáo tổng kết sâu sắc về kết quả 35 năm hoạt động khoa học. Trong đó, tôi ấn tượng nhất là những đóng góp của Viện vào việc xây dựng, sửa đổi các bộ luật lớn của đất nước như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự; việc giúp Chính phủ trong việc tổng kết, đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013; việc chủ động tham gia vào quá trình xây dựng Chương trình tổng thể về cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020; việc tạo dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; đặc biệt là việc trực tiếp soạn thảo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020…Phải nói rằng Viện ngày càng gắn bó với hoạt động của Bộ, ngành, đã thực sự trở thành linh hồn về khoa học pháp lý trong ngành tư pháp.
3. Cùng nhịp với sự phát triển của Viện, tôi cũng đã trưởng thành và phần nào thành danh. Nhân kỷ niệm 35 năm ngày sinh nhật của Viện, tôi cũng xin “khoe” một số thành tích khoa học của mình. Cho đến nay tôi đã chủ nhiệm hơn chục đề tài khoa học cấp nhà nước và cấp bộ, viết và chủ biên trên dưới ba chục cuốn sách các loại, công bố gần một trăm bài viết trên các tạp chí chuyên ngành. Về mặt nội dung, các kết quả nghiên cứu khoa học tập trung vào việc góp phần giải quyết các vấn đề sau đây:
a) Một bộ phận quan trọng của các công trình nghiên cứu tập trung vào việc lý giải rõ các luận cứ khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, thể chế kinh tế thị trường nói riêng phù hợp với điều kiện kinh tế -xã hội của nước ta.
Ở hướng nghiên cứu này, các bài viết và công trình nghiên cứu đã góp phần làm rõ nhiều vấn đề mang tính luận điểm khoa học, trong đó đáng chú ý là:
(i) Làm rõ vai trò không những không thể thiếu được của pháp luật, mà trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, pháp luật còn là một bộ phận cấu thành quan trọng của cơ chế quản lý kinh tế, vừa là môi trường pháp lý thông thoáng, là yếu tố đầu vào trong sự tính toán làm ăn của người dân. Thiếu pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế thị trường không thể vận hành trôi chảy được. Vì vậy, xây dựng pháp luật là hướng hoạt động ưu tiên hàng đầu của Nhà nước ta trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nhằm tạo lập khung pháp luật đồng bộ, thống nhất và ổn định thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển. Trong đó cần tập trung giải quyết các vấn đề quan trọng như: chế độ trách nhiệm đại diện chủ sở hữu của nhà nước đối với đất đai, đối với tài sản và vốn trong doanh nghiệp nhà nước, sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thể chế hoá các yếu tố sản xuất, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, kiểm soát độc quyền…
(ii) Xuất phát từ yêu cầu của việc phát triển nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, cần tính đến việc hoạch định chiến lược tổng thể về xây dựng pháp luật một cách đồng bộ và có cơ sở khoa học. Nhược điểm lớn của hệ thống pháp luật nước ta là còn nhiều khoảng trống, còn có nhiều điểm mang tính chắp vá, chồng chéo và thậm chí mâu thuẫn nhau. Việc hoạch định chính sách pháp luật chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường, vì vậy còn vênh nhiều với thực tế xã hội, làm cho hiệu lực, hiệu quả của pháp luật đạt thấp. Một trong những nguyên nhân là việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật chưa được đặt trong quy hoạch tổng thể của một hệ thống pháp luật.
(iii) Trong nền kinh tế thị trường, vai trò quản lý của Nhà nước không những không mâu thuẫn với yêu cầu về tự do kinh doanh, mà còn là một yếu tố bảo đảm thành công của nền kinh tế thị trường, xuất phát từ chính yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường. Không có vai trò quản lý của Nhà nước, nền kinh tế thị trường sẽ bị thất bại bởi chính những khuyết tật do nó sinh ra. Trong điều kiện nước ta, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước không những đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển, mà còn góp phần quan trọng bảo đảm các giá trị xã hội cao cả mà các thế hệ của dân tộc Việt Nam đã hy sinh xương máu mới giành lấy được.
Vấn đề là ở chỗ, Nhà nước sinh ra không phải để làm thay xã hội, mà để quản lý xã hội, thực hiện dịch vụ công, hướng dẫn, khơi nguồn cho mọi tiềm năng của xã hội được bộc lộ, phát huy, tạo môi trường, hành lang cho xã hội hoạt động, phát triển. Nhà nước chỉ can thiệp trực tiếp vào hoạt động của xã hội khi có tranh chấp xảy ra, khi trong xã hội phát sinh những vấn đề mà tự xã hội không thể giải quyết được. Nhà nước phải thực sự giữ vai trò “lái thuyền”, “đẩy thuyền” phải là nhân dân. Trong chương viết về “Xây dựng thể chế hiện đại và nhà nước hiệu quả” của Cuốn sách Việt Nam 2035 do Nhà xuất bản Hồng Đức ấn hành năm 2016, cũng như trong bài viết “Nhà nước kiến tạo phát triển và khả năng áp dụng ở Việt Nam” đăng ở Tạp chí Luật học số 7/2017, tôi đã phân tích khá kỹ về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường và xã hội. Trong đó đã khẳng định ba trụ cột của đất nước ta trong thời gian tới là: 1) Xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại được đổi mới cả về chất và lượng; 2) Tạo dựng cho được một nền kinh tế thị trường đầy đủ; 3) Thiết lập một xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao, trong đó thượng tôn pháp luật là nguyên tắc chủ đạo chi phối các tương tác trong xã hội, xử lý hài hoà mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường và xã hội.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, tuy là nước đi sau, chúng ta không thể “nhập khẩu” pháp luật của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Bởi vì, nền kinh tế thị trường nước ta có nhiều đặc điểm rất riêng. Các đặc điểm đó đã được các tác giả phân tích kỹ trong kỷ yếu đề tài cấp Nhà nước KX 03-13, từ đó làm rõ yêu cầu đặt ra đối với quá trình xây dựng pháp luật kinh tế phục vụ bước chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trong đó, từ sự phân tích đặc điểm về tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam, các tác giả đã khẳng định rằng việc chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta không đơn thuần chỉ là một quá trình kinh tế, mà bao giờ cũng phải gắn liền với những thay đổi lớn, căn bản về mặt xã hội, thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Để tiếp tục phát triển ý tượng này, trong Đề tài cấp nhà nước KX 02.05/11-15 “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam” đã được nghiệm thu năm 2016, với tư cách là Chủ nhiệm đề tài, tôi đã chỉ đạo nhóm nghiên cứu không những làm rõ những yêu cầu do phát triển bền vững đặt ra,mà đã xác định rõ chính sách chung, cũng như các chính sách cụ thể đối với từng yếu tố cấu thành sự phát triển bền vững của nước ta.
(iv) Vấn đề sở hữu luôn luôn là vấn đề trọng tâm của luật dân sự, luật kinh tế và luật thương mại. Trong các công trình khoa học “Về sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất ở nước ta hiện nay” đăng ở Tạp chí Cộng sản số 7/1992; “Tài sản và quyền sở hữu” in trong cuốn sách Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân sự năm 1995 do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật ấn hành năm 1997..., tác giả đã phân tích rõ một luận điểm mới chỉ đạo việc xây dựng các quy định pháp luật về quyền sở hữu. Theo tác giả, quyền sở hữu được hiểu là vấn đề cơ bản trải lên toàn bộ quan hệ sản xuất, bao gồm không chỉ quan hệ giữa người và người về vật mà cả quan hệ giữa họ về mặt tổ chức sản xuất, kinh doanh, về mặt phân phối đối với lợi ích kinh tế do sự chiếm hữu về mặt tài sản tạo ra. Nghĩa là phải nhìn nhận và quy định vấn đề sở hữu trong thế vận động, không nên hình dung chế định quyền sở hữu và những quyền tài sản thuộc quyền sở hữu ở thế tĩnh. Tài sản thuộc một sở hữu nhất định phải được đưa vào khai thác, sử dụng, phát triển, tăng trưởng. Từ việc làm rõ luận điểm đó, tác giả đề nghị chế định quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự không những chỉ giữ nguyên tắc quyền của chủ sở hữu chiếm vị trí trung tâm, là xuất phát điểm để quy định các quy chế pháp lý tương ứng, mà còn có cả những quy định từ góc độ tài sản (các quyền tài sản), bao quát đầy đủ mọi khả năng xảy ra trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Đó là lý do lý giải vì sao trong chế định về quyền sở hữu có cả các quy định về quyền của người không phải là chủ sở hữu. Đồng thời, chế định quyền sở hữu cũng quy định cả vấn đề địa dịch (dịch quyền) dưới khái niệm “Quyền sử dụng bất động sản liền kề”.Tư tưởng này được phát triển sâu sắc hơn trong Bộ luật dân sự 2005 và cũng được các cuôn sách Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 1995do tôi làm chủ biên phân tích khá kỹ.
(v) Trong quá trình xây dựng Bộ luật Lao động đầu tiên của nước ta, việc xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và vấn đề xã hội, giữa quyền tự do sử dụng lao động của các doanh nghiệp và quyền lợi của người lao động là vấn đề lớn, gây nhiều tranh luận. Với bài “Xây dựng pháp luật bảo đảm việc làm và lợi ích của người lao động” đăng ở Tạp chí Cộng sản số 3/1993, tôi đã góp phần vào việc lý giải vấn đề đó. Trong đó, đóng góp có ý nghĩa là đã lý giải việc thiết kế một cơ chế pháp lý giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa người sử dụng lao động, người lao động có tính đến lợi ích của người chưa có việc làm và lợi ích của Nhà nước.
Vấn đề đảm bảo sự thống nhất và hài hoà giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội có phải được thực hiện như nhau ở mọi nơi, mọi lúc không? Tác giả lý giải rằng, nói đến doanh nghiệp là nói đến nơi làm kinh tế, mưu cầu lợi nhuận. Vì vậy, trong phạm vi doanh nghiệp, sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và giải quyết vấn đề xã hội không thể được thực hiện như ở phạm vi cả nước được. Doanh nghiệp chỉ giải quyết những vấn đề xã hội trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế hoặc những vấn đề đã trở thành giá trị phổ biến của xã hội ta. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm ăn phát đạt, đóng góp nhiều cho xã hội, đó chính là nguồn tài chính góp phần cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội trên phạm vi toàn quốc.
(vi) Để góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, tôi đã rất quan tâm nghiên cứu làm rõ các giá trị lịch sử của Hiến pháp 1946(Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/2008), cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới Chương Chính quyền địa phương trong Hiến pháp 1992(Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề năm 2012). Đồng thời, tôi cũng đã nghiên cứu về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước phục vụ cho việc bổ sung cơ chế này vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2013(Bàn về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đăng ở Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề năm 2013).
b) Khá nhiều công trình khoa học tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho cải cách tư pháp và cải cách hành chính, mà trọng tâm là đổi mới tổ chức, hoạt động và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp.
Ở mức độ khái quát, các công trình khoa học nêu trên đã góp phần làm rõ nhiều luận điểm khoa học, trong đó đáng chú ý là:
(i) Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp mà trọng tâm là Toà án là một yêu cầu cấp bách hiện nay nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.Việc phân tích luận điểm này đã góp phần lý giải cơ sở lý luận và thực tiễn cho các chủ trương: Tổ chức lại hệ thống Toà án theo cấp xét xử; đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát theo hướng Viện Kiểm sát thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; thu gọn đầu mối và xác định lại cho hợp lý hơn thẩm quyền của các cơ quan điều tra; tăng cường thẩm quyền, năng lực của các cơ quan thi hành án, từng bước tập trung công tác quản lý thi hành án về một đầu mối;tăng cường dân chủ trong hoạt đông tư pháp;
(ii) Trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế, cần có sự đổi mới sâu sắc và mang tính cách mạng hệ thống các phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế. Yêu cầu đó xuất phát không những từ tính chất, mức độ và tính đa dạng của tranh chấp kinh tế xảy ra, mà còn xuất phát từ chính yêu cầu của các bên tranh chấp, nhất là yêu cầu về quyền tự chủ, quyền tự lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp.Trong các bài nghiên cứu về vấn đề này, tác giả đã phân tích làm rõ: Trọng tài kinh tế nhà nước trước đây là sản phẩm tất yếu của cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ, khi cơ chế đó bị xoá bỏ thì Trọng tài kinh tế nhà nước cũng phải được xoá bỏ theo, thay vào đó là nhiều phương thức giải quyết khác nhau như: hoà giải, thương lượng, Toà án kinh tế, Trọng tài phi Chính phủ.(xem:Bài viết “Trọng tài kinh tế hay Toà án kinh tế” đăng trên Tạp Chí Nhà nước và Pháp luật số 2/1991;Bài viết “Về mô hình Toà án kinh tế”đăng trên Tạp chi Nhà nước và Pháp luật số 2/1993;Bài viết “Về các phương thức giải quyết tranh chấp chủ yếu trong thương mại quốc tế vầ đầu tư nước ngoài” Kỷ yếu Hội thảo năm 2000 của Bộ Tư pháp…).
Các lập luận này đã góp phần vào việc thành lập Toà kinh tế trong Luật Tổ chức Toà án (sửa đổi), hình thành các tổ chức trọng tài xã hội nghề nghiệp (phi Chính phủ) trong các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định của Chính phủ về tổ chức Trọng tài phi Chính phủ ở nước ta.
(iii) Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tố tụng là một yêu cầu cấp bách nhằm kịp thời thể chế hoá các ý tưởng về cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết của Đảng ta. Ở đây, các công trình nghiên cứu có liên quan của tác giả không những phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tố tụng, mà còn xác định rõ định hướng mà các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng cần hướng tới như: Ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự theo nguyên tắc bảo đảm và đề cao quyền tự định đoạt của các bên; sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự theo sự chuyển hướng chuyển từ thủ tục xét hỏi sang thủ tục tranh tụng dân chủ; sửa đổi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính theo hướng tăng thẩm quyền cho Toà hành chính có tính đến đặc thù của đối tượng xét xử hành chính; sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp theo hướng quy định cụ thể chế tài đối với thủ trưởng cơ quan quản lý trong việc cản trở doanh nghiệp yêu cầu tuyên bố phá sản.
(iv)Về cải cách hành chính, trong các công trình nghiên cứu “Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước -Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” được công bố dưới dạng Thông tin khoa học pháp lý số 12năm 2000; sách chuyên khảo “Cải cách hành chính Nhà nước - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật năm 2001 ấn hành, tác giả đã phân tích thực trạng của nền hành chính nhằm làm rõ mặt được và mặt còn hạn chế cũng như những nguyên nhân của các hạn chế. Từ đó đã đề ra các giải pháp góp phần đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng chuyển từ một nền hành chính cai trị sang một nền hành chính phục vụ nhân dân. Trong đó, đáng chú ý là những kiến nghị về cải cách thể chế pháp lý. Trong thời gian tới, thể chế hành chính cần được đổi mới theo hướng: (i) Cần đổi mới và tiếp tục hoàn thiện thể chế về tổ chức bộ máy hành chính theo hướng xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan nhà nước, nhất là cần xác định rõ vai trò, chức năng của Chính phủ và bộ máy hành chính trong quản lý kinh tế - xã hội và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân. Làm thế nào để bảo đảm sự phân công rõ ràng, trách nhiệm trước dân không lẫn lộn; tạo ra cơ chế kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau giữa các bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, đồng thời thể chế hành chính cũng cần được hoàn thiện theo hướng công khai, minh bạch nhằm bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy hành chính; (ii) Thể chế về bảo đảm quyền dân chủ của dân và quan hệ hành chính với dân cần được đổi mới theo hướng đơn giản hoá thủ tục hành chính, bảo đảm chế độ thông tin công khai từ phía Nhà nước, tạo khuôn khổ và công cụ pháp lý cho việc hình thành các tổ chức và chế độ tự quản của dân; (iii) Trong xây dựng thể chế pháp lý, cần phải luật hoá yêu cầu “tập trung hơn” trong phân cấp, uỷ quyền ban hành thể chế, đồng thời “dân chủ hoá” trong việc tổ chức, huy động trí tuệ của nhân dân và tạo lập các thiết chế phù hợp, linh hoạt mang tính chuyên môn cao để tham gia vào quá trình xây dựng thể chế.
c) Một số công trình khoa học tập trung nghiên cứu góp phần xây dựng cơ chế đưa pháp luật vào đời sống xã hội và cơ chế áp dụng, thực hiện pháp luật có hiệu quả, đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng dựng đất nước với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Về nội dung, các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên chủ yếu tập trung giải quyết ba vấn đề: (i) Giải thích, cắt nghĩa, bình luận khoa học các quy định pháp luật nhằm giúp cho các đối tượng thực hiện, thi hành, áp dụng pháp luật hiểu một cách đầy đủ, toàn diện, sâu sắc và thống nhất tinh thần và nội dung các văn bản quy phạm pháp luật. (ii) Nghiên cứu nhằm phát hiện những yếu tố ảnh hưởng, cản trở đến việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật. (iii) Kiến giải các biện pháp khắc phục những yếu tố ảnh hưởng, cản trở, góp phần xây dựng cơ chế thực hiện pháp luật đạt hiệu quả.
d) Ngoài ra, trong các kết quả nghiên cứu khoa học của mình, tôi có khá nhiều bài viết về kinh nghiệm nước ngoài trong hoạt động lập pháp, thi hành pháp luật và tư pháp. Các bài viết là kết quả của những chuyến khảo sát, nghiên cứu ở nước ngoài. Chẳng hạn năm 1998, sau chuyến khảo sát về việc xây dựng pháp luật ở các nước Đông Âu trong bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tác giả đã viết cuốn “Pháp luật của một số nước Đông Âu trong quá trình chuyển đổi cơ chế” được công bố dưới dạng Thông tin khoa học pháp lýsố 9/1998 chuyên đề. Ở cuốn thông tin này, bên cạnh việc cung cấp và phân tích nhiều kinh nghiệm quý của các nước bạn, đã nêu ra nhiều kiến nghị được các nhà nghiên cứu khoa học cũng như những nhà quản lý đánh giá cao. Hoặc năm 1999, sau khi được tháp tùng Bộ trưởng Bộ Tư pháp đi nghiên cứu về cải cách tư pháp ở Nhật Bản, tác giả đã viết một loạt bài như: “Chế độ Tư pháp Nhật Bản trước thềm của Thế kỷ XXI”, “Về tổ chức và thẩm quyền của Toà án Nhật Bản”, “Về Văn phòng lập pháp của Nội các Nhật Bản”, “Về Luật sư ở Nhật Bản”... đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 1999. Qua các bài viết đó, một mặt tác giả cung cấp các kinh nghiệm của Nhật Bản trong xây dựng pháp luật, trong tổ chức các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp; mặt khác, đã đề xuất nhiều kiến nghị khoa học, trong đó kiến nghị về cải cách tư pháp cần ưu tiên theo hướng bảo đảm khả năng tiếp cận của nhân dân và xã hội đối với nền tư pháp đã gợi mở nhiều vấn đề cần được suy nghĩ về nội dung cải cách tư pháp ở nước ta.
đ) Rất may mắn là tôi được tham gia vào việc xây dựng rất nhiều văn bản pháp luật (với tư cách là thành viên Ban soạn thảo hoặc Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban chỉ đạo trực tiếp quá trình soạn thảo). Theo thống kê chưa đầy đủ, cho đến nay, tôi đã tham gia soạn thảo hơn 260 văn bản quy phạm pháp luật các loại (Luật, Pháp lệnh, Nghị định), trong đó có Hiến pháp năm 2013. Qua đó, tôi có điều kiện thể hiện các ý tưởng khoa học của mình, góp phần cải cách pháp luật, cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
Tôi xin cảm ơn Viện đã giúp tôi nhiều trong hoạt động khoa học.Nhân kỷ niêm 35 năm ngày sinh nhật của Viện, xin chúc mừng Viện và chúc Viện thành công hơn nữa./.
GS.TS. Hoàng Thế Liên


