Viện Khoa học pháp lý - 35 năm: Một chặng đường
22/06/2018
1. Sản phẩm của cả quá trình thai nghén Để hình thành nên một thiết chế nghiên cứu thường trực và ngày càng chuyên nghiệp trong Bộ Tư pháp không hề là câu chuyện của ngày một ngày hai. Những bậc tiền bối của ngành Tư pháp, với tầm nhìn xa, ngay từ những năm 1950 – khi đất nước còn trong thời kháng chiến gian khổ đã ấp ủ về sự ra đời của thiết chế làm công tác nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật trực thuộc Bộ Tư pháp. Báo cáo công tác tư pháp năm 1949, phương hướng hoạt động năm 1950 của Bộ Tư pháp đã chủ trương “tổ chức Ban Nghiên cứu pháp lý để nghiên cứu những cải tổ luật lệ cần thiết”. Mục tiêu của việc lập Ban Nghiên cứu như thế cũng để nhằm kịp thời thấy những ưu và khuyết điểm của luật pháp, nhu cầu của tình thế và xác định hướng cần phải theo. Chính từ việc thành lập Ban Nghiên cứu pháp lý vào tháng 9/1950 mà chỉ sau khoảng 2 năm hoạt động, Ban Nghiên cứu đã giúp lãnh đạo Bộ thảo xong những quy định quan trọng về dự thảo Luật Gia đình, quy định về hình phạt và luật trấn áp Vi...
Năm 1981, khi Bộ Tư pháp được tái lập, cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp cũng đã có tên “Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý” (theo Nghị định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng). Trên cơ sở này, ngày 4/8/1983, với Quyết định số 127/QĐ-TC, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Phan Hiền đã chính thức thành lập Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (nay là Viện Khoa học pháp lý) với bộ máy tổ chức có nhân sự cụ thể.
2. Luôn đồng hành cùng những sự kiện pháp lý trọng đại của đất nước, bám sát nhiệm vụ trọng tâm của Bộ và Ngành Tư pháp
Kể từ khi được chính thức thành lập, nhất là sau khi đất nước tiến hành đường lối Đổi mới (từ năm 1986), nhu cầu nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật mới phục vụ quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, chuyển từ nhà nước được tổ chức theo mô thức cũ sang nhà nước pháp quyền XHCN càng trở nên cấp bách. Để tạo tiền đề hiến định cho những thay đổi có tính chất “cách mạng” này, công việc xây dựng Hiến pháp mới và tiếp tục hoàn thiện các quy định của Hiến pháp gắn với tiến trình đổi mới được đặt ra một cách cấp thiết. Dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý thời kỳ đó và nay là Viện Khoa học pháp lý có vinh dự lớn là một trong những tổ chức nghiên cứu của quốc gia trực tiếp tham gia quá trình nghiên cứu phục vụ việc xây dựng Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và gần đây là Hiến pháp năm 2013.[1]
Viện Khoa học pháp lý cũng là một trong những nơi tiến hành các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng cấp nhà nước và cấp bộ để cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần hình thành nên đường lối cải cách pháp luật, cải cách tư pháp ở nước ta, thể hiện đậm nét trong Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị) và Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (theo Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2006 của Bộ Chính trị). Việc đặt ra tầm nhìn xây dựng một hệ thống pháp luật “đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” cùng một nền tư pháp “trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” có sự đóng góp không thể phủ nhận của Viện Khoa học pháp lý và những cán bộ tham gia nghiên cứu cùng Viện Khoa học pháp lý.
Các nghiên cứu do Viện trực tiếp triển khai hoặc tham mưu tổ chức triển khai đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng những đạo luật rường cột của quốc gia như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Thi hành án dân sự v.v.[2]
Các nghiên cứu do Viện trực tiếp triển khai hoặc tham mưu tổ chức triển khai cũng trực tiếp góp phần tích cực trong việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế về tư pháp và pháp luật, nhất là trong việc triển khai Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, các cam kết trong WTO và cộng đồng ASEAN. Trong số đó, có thể kể đến các đề tài như: “Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật” (năm 1995), “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng pháp lệnh tương trợ tư pháp” (năm 1998), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ký kết và thực hiện thương mại, đầu tư quốc tế có yếu tố nước ngoài mà một bên tranh chấp là nhà nước Việt Nam” (năm 2000-2001), “Một số vấn đề về pháp luật kinh doanh và đầu tư của các nước ASEAN” (năm 1996), “Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN và WTO với việc hoàn thiện pháp luật và hệ thống tư pháp Việt Nam” (năm 1998), “Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam” (năm 2001), “Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam liên quan đến các hiệp định đa biên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và giải pháp nội luật hóa của Việt Nam” (năm 2003), “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế và việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong quá trình hội nhập” (năm 2005), “Vai trò của Bộ Tư pháp trong ký kết, gia nhập và thực thi các điều ước quốc tế” (năm 2006), “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp Việt Nam” (năm 2006) v.v
Từ cuối những năm 1990, phương pháp nghiên cứu của Viện Khoa học pháp lý tiếp tục được hiện đại hóa, trong đó đề cao việc điều tra, khảo sát thực tiễn, đi kèm với việc áp dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu, nhất là cách tiếp cận xã hội học, kinh tế học, chính trị học và văn hóa học pháp luật. Thực hiện hướng nghiên cứu mới này, hàng năm, các cán bộ của Viện đã đặt dấu chân của mình ở hầu khắp các vùng, miền của tổ quốc, từ vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, biên giới tới các vùng nông thôn hoặc đô thị. Qua những chuyến đi, thực tiễn phát triển của đất nước, thực tiễn pháp lý được phản ánh sinh động hơn trong các nghiên cứu của Viện, phục vụ trực tiếp quá trình hoàn thiện các lĩnh vực pháp luật quan trọng như pháp luật dân sự, pháp luật hình sự, giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, pháp luật môi trường v.v.[3] Thực tế đó đã làm cho các hoạt động nghiên cứu của Viện vượt qua được cách nghiên cứu thuần túy lý thuyết.
3. Luôn cổ vũ những giá trị pháp lý cao đẹp của truyền thống và đương đại
Tiến trình đổi mới của đất nước cũng là quá trình nhìn nhận lại để kế thừa những giá trị truyền thống của ông cha, trong đó có những giá trị pháp lý truyền thống đồng thời vươn tới những giá trị mới, hiện đại vì nhu cầu phát triển trường tồn của dân tộc. Trong các nghiên cứu của mình, Viện Khoa học pháp lý luôn chú trọng giữ gìn, cổ vũ những giá trị pháp lý cao đẹp của truyền thống ngàn năm văn hiến. Những công trình nghiên cứu về Bộ luật Hồng Đức, về những thành tựu trong cải cách pháp luật và xây dựng bộ máy nhà nước, về trọng dụng nhân tài dưới triều vua Lê Thánh Tông cùng những nghiên cứu về di sản pháp lý tổ tiên ta để lại là những minh chứng.[4] Qua những nghiên cứu đó, giá trị trọng nhân nghĩa, trọng hiền tài, trọng pháp, trọng kỷ luật, kỷ cương của ông cha tiếp tục được làm sáng tỏ, truyền bá và lan tỏa.
Viện Khoa học pháp lý cũng tiến hành nhiều nghiên cứu về các hiện tượng pháp lý đương đại như các nghiên cứu về Nhà nước pháp quyền, về bảo vệ quyền con người, về kinh tế thị trường, qua đó cổ vũ, tôn vinh những giá trị nhân bản đương đại như giá trị về tôn trọng quyền con người, giá trị dân chủ, giá trị pháp quyền, đề cao hiệu lực, hiệu quả quản trị xã hội, trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lênin và đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh. Các nghiên cứu của Viện Khoa học pháp lý tập trung vào việc tìm kiếm những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, hoàn thiện cơ chế tổ chức và vận hành nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN thực sự của dân, do dân và vì dân, phê phán các biểu hiện tha hóa quyền lực và các hiện tượng tiêu cực khác trong xã hội, đề cao thượng tôn pháp luật.
4. Sẵn sàng, tự tin hội nhập và chủ động ứng phó với tình hình mới
Trong bối cảnh thế và lực của đất nước trên trường quốc tế tiếp tục được tăng cường, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, Viện Khoa học pháp lý đặc biệt coi trọng việc mở rộng hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học pháp lý. Nhiều thành viên của Viện Khoa học pháp lý đã tự tin xuất hiện ở những diễn đàn, hội thảo quốc tế quan trọng. Bên cạnh các đối tác đến từ châu Âu, Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, những năm gần đây, Viện Khoa học pháp lý đã mở rộng thêm quan hệ hợp tác với Úc, Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc). Viện Khoa học pháp lý cũng là đối tác chính thức và nằm trong mạng lưới ASLI (Viện Luật châu Á) – tổ chức kết nối hợp tác khoảng 80 cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật thuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc mở rộng các quan hệ hợp tác quốc tế này góp phần thúc đẩy các trao đổi học thuật, cập nhật tình hình và xu hướng mới nhất trên thế giới về khoa học pháp lý phục vụ công tác tham mưu với Lãnh đạo Bộ.
Trong khoảng 2 năm trở lại đây, trước những tác động ngày càng mạnh mẽ của những công nghệ mới phát sinh từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (như công nghệ chuỗi khối – Blockchain, công nghệ về trí thông minh nhân tạo – Artificial Intelligence, công nghệ điện toán đám mây – cloud computing, công nghệ in 3 D v.v.) lên mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, Viện Khoa học pháp lý đã tiến hành các hoạt động nghiên cứu, tổ chức các diễn đàn, hội thảo để kịp thời nhận diện những vấn đề pháp lý mới đang đặt ra. Viện cũng chủ động đề xuất với Lãnh đạo Bộ thiết kế các nhiệm vụ nghiên cứu để đánh giá một cách toàn diện tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với hệ thống pháp luật và yêu cầu mới đặt ra đối với việc thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc nghiên cứu về cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với pháp luật càng giúp các cán bộ của Viện Khoa học pháp lý hiểu sâu sắc hơn ai hết vai trò của khoa học trong đó có khoa học pháp lý đối với sự phát triển của đất nước cùng những yêu cầu ngày càng cao về tiến độ triển khai nhiệm vụ và tốc độ vận hành các hệ thống có liên quan. Viện Khoa học pháp lý cũng thấy rõ yêu cầu tự mình phải trở thành một thiết chế thông minh (Smart Institute), một trung tâm đổi mới sáng tạo (innovation center), quyết tâm giữ ngọn cờ đầu trong đầu trong quá trình hiện đại hóa tổ chức và hoạt động.
5. Một địa chỉ đoàn kết, nghĩa tình
Một trong những điểm đặc trưng của tập thể Viện Khoa học pháp lý là lối sống nghĩa tình sau trước vẹn toàn của những người đã từng gắn bó với Viện Khoa học pháp lý. Chính vì thế, dù không còn gắn bó với Viện do đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác, mối liên kết của những người đã có thời gian công tác tại Viện với tập thể Viện Khoa học pháp lý hiện nay vẫn được duy trì bền chặt. Tập thể Viện Khoa học pháp lý dù trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng luôn tự hào là một tập thể đoàn kết, gắn bó, một môi trường làm việc trong sáng, lành mạnh, văn minh. Đây là truyền thống cực kỳ quý báu mà tập thể Viện Khoa học pháp lý đang có trong bối cảnh giá trị xã hội đang có nhiều biến động khó lường. Tập thể cán bộ Viện Khoa học pháp lý cũng tích cực hưởng ứng các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, lá lành đùm lá rách, sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh trong và ngoài Bộ, Ngành Tư pháp.
Nhìn lại chặng đường 35 năm xây dựng và phát triển, nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ban cán sự, Lãnh đạo Bộ, sự phối hợp chặt chẽ của các đơn vị trong và ngoài Bộ, sự nỗ lực không ngừng nghỉ của các thế hệ cán bộ công tác tại Viện và sự ủng hộ của các chuyên gia, nhà khoa học, tập thể Viện Khoa học pháp lý có thể tự hào về những gì mình đã làm được. Những thành tựu ấy cùng các truyền thống tốt đẹp, lối sống trong sáng, nghĩa tình mà tập thể Viện Khoa học pháp lý đã gây dựng được qua bao thế hệ cán bộ là hành trang và động lực to lớn để các thế hệ cán bộ hôm nay của Viện Khoa học pháp lý tự tin đi tới. Theo sát chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, tập thể Viện Khoa học pháp lý đang nỗ lực phấn đấu để thực sự trở thành Viện Nghiên cứu chiến lược của Bộ, Ngành Tư pháp, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nắm bắt thời cơ và vận hội mới, đưa sự nghiệp khoa học pháp lý của bộ, ngành tiến lên phía trước trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và trước thềm của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
[1] Chẳng hạn như các đề tài sau: “Những căn cứ khoa học và thực tiễn của việc xây dựng Hiến pháp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (năm 1990), “Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam” (năm 1992), “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp góp phần sửa đổi Hiến pháp năm 1992” (năm 2001), “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của tòa án trong nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân” (năm 2003), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp năm 1992 về chế độ kinh tế phù hợp với tình hình mới” (năm 2011-2012), “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới chế độ bầu cử ở Việt Nam hiện nay” (năm 2012-2013)...
[2] Chẳng hạn như các đề tài: “Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Bộ luật dân sự và Tố tụng dân sự” (năm 1990), “Di sản pháp luật dân sự” (năm 1994), “Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Việt Nam” (năm 1996), “Hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta” (năm 2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sửa đổi, bổ sung BLDS 2005 đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước” (năm 2011-2012). Những đề tài tiêu biểu do Viện Khoa học pháp lý trực tiếp tổ chức thực hiện hoặc tham mưu tổ chức thực hiện liên quan tới việc xây dựng và thi hành Bộ luật hình sự như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phục vụ xây dựng Bộ luật hình sự (sửa đổi)” (năm 1995), “Bình luận Bộ luật hình sự năm 1999” (năm 2000-2001), “Cơ sở khoa học để xây dựng và hoàn thiện chính sách hình sự trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (năm 2005), “Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế định về tội phạm và hình phạt hướng tới việc sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 đáp ứng yêu cầu mới” (năm 2007-2008), “So sánh pháp luật hình sự một số nước ASEAN” (năm 2008). Những đề tài tiêu biểu do Viện Khoa học pháp lý trực tiếp tổ chức thực hiện hoặc tham mưu tổ chức thực hiện liên quan tới việc xây dựng và thi hành một số đạo luật quan trọng khác như: “Cơ sở lý luận cho việc xây dựng chế định về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta” (năm 1991), “Bình luận khoa học Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính” (năm 2003), “Cơ sở lý luận, thực tiễn xây dựng mô hình Bộ luật xử lý vi phạm hành chính” (năm 2005); Đề tài “Một số cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới quy trình nâng cao chất lượng xây dựng Luật, Pháp lệnh” (năm 1995), “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền, thủ tục, trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương” (năm 1998), “Nghiên cứu cơ chế thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật” (năm 2000-2001), “Cơ chế kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật - thực trạng và giải pháp hoàn thiện trong giai đoạn mới” (năm 2002), “Nâng cao chất lượng thẩm định của Bộ Tư pháp đối với dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo điều ước quốc tế” (năm 2008), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (thống nhất)” (năm 2011-2012), “Xây dựng mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án” (năm 1996), “Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới” (năm 2002).
[3] Có thể kể đến các nhiệm vụ điều tra cơ bản, nhiệm vụ môi trường quan trọng mà Viện Khoa học pháp lý đã từng thực hiện về các chủ đề như: thực trạng thực hiện quyền tự do, dân chủ của công dân, thực trạng tranh chấp thương mại quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam, thực trạng thi hành Bộ luật hình sự, thực trạng thi hành Bộ luật dân sự, thực trạng thi hành pháp luật về an toàn thực phẩm v.v.
[4] Xem: Kỷ yếu Hội thảo cấp quốc gia “Quốc triều hình luật – Những giá trị lịch sử và đương đại góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” (NXB Tư pháp, 2006); Kỷ yếu Hội thảo cấp quốc gia “Cải cách pháp luật và xây dựng bộ máy nhà nước dưới triều vua Lê Thánh Tông – Những giá trị lịch sử và đương đại” (NXB Tư pháp, 2017).
TS. Nguyễn Văn Cương
Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý


