Giải pháp xây dựng quy định về đối tượng, điều kiện, quy trình, thủ tục tham gia regulatory sandbox - Cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát
28/04/2025
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với những công nghệ lõi như blockchain, trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, robot, in 3D cùng với quá trình chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới các lĩnh vực kinh tế - xã hội của Việt Nam. Điều này đang đặt ra yêu cầu cấp bách về hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tận dụng cơ hội, ứng phó với những thách thức do cuộc cách mạng công nghiệp này mang lại cho người dân, cộng đồng doanh nghiệp và khu vực công. Chẳng hạn, với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư, tài sản ảo, tiền điện tử, tiền mã hóa/tiền ảo ngày càng phổ biến và thu hút sự quan tâm của công chúng, các chuyên gia kỹ thuật, kinh tế, pháp lý; các chính phủ và tổ chức quốc tế. Nhiều thứ “ảo” đã và đang dần trở nên “thật”, qua đó làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý liên quan. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bên cạnh mục đích khai thác những lợi ích từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn đảm bảo sự ứng phó với những mặt trái do cuộc cách mạng công nghiệp này mang lại.
Tuy nhiên, trước những hiện tượng mới, có những khía cạnh chưa dễ hình dung hoặc chưa thể lường trước các diễn biến, tác động, việc áp dụng các cơ chế pháp lý thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế (Sandbox) là lựa chọn mà không ít quốc gia đã làm. Sandbox cho phép thử nghiệm trong môi trường thực tiễn, nhưng có phạm vi và thời gian xác định, cùng với các biện pháp bảo vệ thích hợp để ngăn chặn bất kỳ hậu quả nào của sự thất bại mà không ảnh hưởng quá nhiều đến hệ thống tài chính quốc gia. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành cơ chế quản lý thử nghiệm, phổ biến nhất là yêu cầu xúc tiến cạnh tranh và nâng cao hiệu quả trên các thị trường dịch vụ tài chính thông qua các sáng kiến đổi mới.
2. Tổng quan về Sandbox
2.1. Khái niệm Sandbox
Regulatory sandbox[1] (cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát) đang trở thành một công cụ quản lý được nhiều quốc gia trên thế giới tìm đến trong nỗ lực tìm kiếm phương thức phù hợp để điều chỉnh những vấn đề đang phát sinh từ những công nghệ mới chưa được kiểm chứng và chưa được dự liệu bởi các quy tắc pháp lý vốn ổn định, khó có thể thay đổi trong một sớm một chiều. Thuật ngữ regulatory sandbox dùng để chỉ một môi trường pháp lý để thử nghiệm các ứng dụng công nghệ được chọn lọc mà về lý thuyết thì sẽ không thể thực hiện được trong khuôn khổ các quy định pháp luật hiện hành. Regulatory sandbox cho phép người thử nghiệm các ứng dụng mới được miễn thực thi một số quy tắc pháp luật trong một khoảng thời gian giới hạn và trong một số trường hợp có thể là trong một khu vực địa lý cố định với sự giám sát, hỗ trợ của cơ quan quản lý. Cách làm này giúp cho những người xây dựng các ứng dụng trên nền tảng công nghệ mới có thể triển khai được các ý tưởng của mình trong khi môi trường pháp luật chung chưa cho phép, qua đó có cơ hội chứng minh những lợi ích về mặt kinh tế- xã hội mà công nghệ mới có thể mang lại. Đồng thời, nó cũng cho phép cơ quan nhà nước kiểm nghiệm, đánh giá những khía cạnh công nghệ mới chưa được pháp luật dự liệu, để từ đó xây dựng các quy tắc pháp lý thích hợp, có thể là cấm, cho phép có kiểm soát hoặc cho phép ứng dụng rộng rãi.
Một cách khái quát nhất, có thể định nghĩa về thuật ngữ Sandbox dưới góc độ lập pháp là tạo ra một không gian thuận lợi với khung chính sách riêng (nằm ngoài khung chính sách hiện tại) để tiến hành thử nghiệm những khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới[2]. Theo đó, regulatory sandbox - “cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát” là một cách tiếp cận mới và khá linh hoạt trong kỹ thuật lập pháp, cho phép thử nghiệm/thí điểm trực tiếp, giới hạn thời gian của các đổi mới dưới sự giám sát điều chỉnh. Sandbox cho phép thử nghiệm trong môi trường thực tiễn, nhưng có phạm vi và thời gian xác định, cùng với các biện pháp bảo vệ thích hợp để ngăn chặn bất kỳ hậu quả nào của sự thất bại mà không ảnh hưởng quá nhiều đến hệ thống tài chính quốc gia. Hết thời hạn thử nghiệm, nếu doanh nghiệp khởi nghiệp và đi vào hoạt động thành công, thì sẽ phải thoát ra khỏi khung pháp lý Sandbox và hoạt động theo khung pháp luật hiện hành.
Regulatory sandbox là một không gian pháp lý nơi các công nghệ mới có thể được thử nghiệm mà không bị ràng buộc bởi các yêu cầu về cấp phép hoặc các điều kiện kinh doanh không phù hợp, hoặc do sự thiếu vắng khung pháp lý tương ứng. Tuy nhiên, sự miễn trừ khỏi các ràng buộc về giấy phép hoặc điều kiện kinh doanh không đồng nghĩa với việc miễn trách nhiệm trước pháp luật hoặc các trách nhiệm dân sự khác. Trong không gian này, các hoạt động thử nghiệm được tiến hành trong phạm vi có thể kiểm soát, đồng thời đảm bảo người thử nghiệm cam kết chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình. Nó cũng hạn chế và ngăn chặn các tác động tiêu cực đối với cộng đồng và người tiêu dùng. Có thể nói, sandbox được đặc trưng bởi việc giới hạn phạm vi. Các giới hạn này có thể liên quan đến thời gian, địa lý, số lượng/loại hình chủ thể được phép tham gia, và quy mô của sản phẩm, dịch vụ được thử nghiệm. Các không gian này được phân biệt rõ ràng so với không gian kinh tế - xã hội thông thường, nơi mà các quy định pháp luật được áp dụng một cách rộng rãi. Trong không gian pháp lý thử nghiệm, các quy tắc pháp luật chung được giảm thiểu, hoặc mức độ cần tuân thủ được điều chỉnh và thay thế bằng hoạt động giám sát của cơ quan quản lý và cam kết của đơn vị thử nghiệm về bảo vệ người tiêu dùng và không xâm phạm lợi ích công. Do vậy, “lỏng về mặt quy tắc nhưng không lỏng về mặt trách nhiệm” có thể được coi là một đặc trưng của mô hình này.
2. Tình hình thực hiện Sandbox tại Việt Nam
Trên thực tế, ý tưởng về việc hình thành các cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát (regulatory sandbox) đã được đề cập ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây. Ý tưởng này cũng đã nhận được sự ủng hộ từ các cơ quan cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước. Cụ thể:
- Nghị quyết 52-NQ/TW ngay 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã yêu cầu “Sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm. Nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho doanh nghiệp công nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới.”
Đồng thời, trong Nghị quyết số 52-NQ/TW, Bộ Chính trị cũng chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách trên:
+ Giao cho Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật để tạo thuận lợi cho tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo tinh thần của Nghị quyết; ban hành một số cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để khuyến khích phát triển các sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới của nền kinh tế số.
+ Giao cho Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; ban hành, triển khai Đề án chuyển đổi số quốc gia và các đề án, chương trình, kế hoạch tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chỉ đạo xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm, mô hình, kinh doanh mới. Ưu tiên bố trí đủ nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết[3].
- Quyết định số 999/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thúc đẩy mô hình kinh tế chia sẻ: Đề án khẳng định quan điểm “thực hiện cơ chế thử nghiệm chính sách mới (dạng sandbox) cho việc triển khai và ứng dụng các công nghệ mới trong mô hình kinh tế chia sẻ”.
- Việc thực hiện Quyết định số 24/QĐ-BGTVT ngày 07/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng đã được triển khai thực chất là một mô hình khung pháp lý thử nghiệm đối với loại hình vận tải. Từ kết quả của thực hiện thí điểm, kể từ ngày 01/4/2020, Nghị định số 10/2020/NĐ-CP ngày 17/01/2020 của Chính phủ quy định về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô có hiệu lực và đã quy định về đơn vị cung cấp phần mềm ứng dụng hỗ trợ kết nối vận tải.
- Ngày 3/6/2020, Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg, phê duyệt "Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030". Chiến lược này đặt mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025 và 30% vào năm 2030, tạo nền tảng cho việc áp dụng các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực công nghệ số.
- Ngày 6/9/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 100/NQ-CP thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính (Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng và trình Chính phủ Dự thảo Nghị định vào quý VI năm 2021. Đây là những khung pháp lý thử nghiệm ở Việt Nam đang được xây dựng trong lĩnh vực FinTech.
- Ngày 1/4/2022, NHNN công bố dự thảo lần thứ hai của Nghị định và tiến hành lấy ý kiến đóng góp từ các cá nhân, doanh nghiệp để hoàn thiện. Dự thảo này được coi là bước đầu trong việc xây dựng khung pháp lý cho hoạt động Fintech tại Việt Nam.
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đưa ra định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, bao gồm: Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo; Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới. Trên cơ sở định hướng đó, Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, trong đó có nhiệm vụ đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Sandbox cho phép thử nghiệm trong môi trường thực tiễn, nhưng có phạm vi và thời gian xác định, cùng với các biện pháp bảo vệ thích hợp để ngăn chặn bất kỳ hậu quả nào của sự thất bại mà không ảnh hưởng quá nhiều đến hệ thống tài chính quốc gia. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành cơ chế quản lý thử nghiệm, phổ biến nhất là yêu cầu xúc tiến cạnh tranh và nâng cao hiệu quả trên các thị trường dịch vụ tài chính thông qua các sáng kiến đổi mới. Với kinh nghiệm và trình độ quản lý hiện nay ở Việt Nam, cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế (Sandbox) cũng có thể là một gợi ý đáng tham khảo. Tuy nhiên, việc áp dụng cơ chế thử nghiệm này cho lĩnh vực nào, trong điều kiện nào thì chỉ có câu trả lời chính xác khi phân tích từng tình huống chính sách cụ thể[4].
Thực tế ở Việt Nam đã có nhiều cơ chế được thí điểm, chẳng hạn như thí điểm thừa phát lại, hay thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Điểm khác biệt giữa hoạt động thí điểm các cơ chế và hoạt động thí điểm các ứng dụng công nghệ trong cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soátlà ở chỗ đối với hoạt động thứ nhất, cơ quan quản lý đã thiết lập được cơ chế quản lý và việc thử nghiệm là để kiểm tra điểm tính đúng, sai, phù hợp hay không phù hợp của chính cơ chế đó. Trong khi đó, cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soátvề cơ bản vận hành dựa trên nguyên lý là không có ràng buộc về quy tắc pháp lý (đây cũng là lý do mà mô hình này được gắn với thuật ngữ sandbox - hộp cát). Sự không ràng buộc về quy tắc pháp lý thể hiện ở việc cho phép thử nghiệm ứng dụng khi chưa có quy tắc, hoặc có quy tắc nhưng quy tắc không cho phép hoặc không phù hợp để vận hành nên được tạm thời dỡ bỏ. Đây là yếu tố tiền đề để có thể thử nghiệm một ứng dụng công nghệ mới mà các quy tắc pháp lý trước đó chưa dự báo trước được do có những thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Thay vì các ràng buộc về quy tắc, chúng ta thấy sự ràng buộc đến từ việc thực thi và giám sát. Do việc giám sát cơ bản không dựa vào quy tắc mà dựa vào kiểm soát thực tế, việc hạn chế phạm vi là cần thiết để phù hợp với khả năng kiểm soát.
II. Giải pháp xây dựng quy định về đối tượng, điều kiện, quy trình, thủ tục tham gia cơ chế thử nghiệm có kiểm soát
1. Về đối tượng
Trong bối cảnh Việt Nam, các quy tắc pháp lý cho cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cần xác định mục tiêu và nguyên tắc vận hành, cơ quan quản lý, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý, quy trình chấp nhận thử nghiệm, tiêu chí xác định ứng dụng được thử nghiệm, tiêu chí xác định phạm vi thử nghiệm, mối quan hệ giữa các bên trong quá trình thử nghiệm. Sandbox có thể áp dụng trên toàn quốc hoặc đối với một số dịch vụ cá biệt (ví dụ, đô thị thông minh) trước mắt có thể lựa chọn chỉ cho thí điểm ở một số thành phố lớn.
Có thể xây dựng loại hình đối tượng tham gia vào cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát theo 2 phương thức sau:
- Theo chủ thể đổi mới, sáng tạo: Các cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát có thể chấp nhận sự tham gia của các chủ thể được quản lý bao gồm:
+ Các doanh nghiệp đã được cấp phép hoạt động: Đây là những tổ chức có tư cách pháp nhân rõ ràng, đang chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật nhưng muốn thử nghiệm công nghệ mới, cải tiến mô hình kinh doanh hoặc phát triển các sản phẩm dịch vụ tiên tiến.
+ Các công ty khởi nghiệp (startups), doanh nghiệp công nghệ và FinTech: Nhóm này bao gồm các doanh nghiệp có mô hình kinh doanh chưa được điều chỉnh rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành hoặc đang gặp rào cản về quy định do tính chất đổi mới, sáng tạo của công nghệ họ đang phát triển.
+ Sự kết hợp giữa các nhóm trên: Một số chương trình sandbox có thể áp dụng cho cả doanh nghiệp truyền thống lẫn các công ty khởi nghiệp, nhằm khuyến khích sự hợp tác giữa các bên, thúc đẩy đổi mới trong những ngành có sự giao thoa giữa công nghệ mới và mô hình kinh doanh hiện tại.
- Theo loại hình đổi mới, sáng tạo: Các cơ quan quản lý xác định các loại hình sáng tạo có thể được xem xét thử nghiệm trong khung pháp lý thử nghiệm. Những sản phẩm đổi mới, sáng tạo cần phải sẵn sàng để đưa ra thị trường, ví dụ như một ý tưởng trong giai đoạn phát triển ban đầu không phải là đối tượng để đưa vào khung pháp lý thử nghiệm. Các nhà sáng tạo có thể được yêu cầu chứng minh rằng những đề xuất của họ có các mục tiêu cụ thể cần được chứng minh qua việc thử nghiệm, chẳng hạn như việc giảm thiểu giá thành sản phẩm với người tiêu dùng, cải thiện việc đánh giá các rủi ro tín dụng... Ngoài việc thiết lập các tiêu chí thử nghiệm, phạm vi áp dụng sandbox cũng cần được mở rộng để đáp ứng những xu hướng công nghệ mới. Trong lĩnh vực tài chính số, các mô hình như ngân hàng số, thanh toán điện tử, tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) và tài chính phi tập trung (DeFi) đang phát triển mạnh mẽ, đặt ra yêu cầu thử nghiệm để kiểm soát rủi ro trước khi triển khai chính thức. Bên cạnh đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ blockchain trong quản lý hành chính công, tư pháp, y tế hay giao thông cũng đang được thử nghiệm tại nhiều quốc gia. Do đó, việc thiết lập sandbox để đánh giá tác động của các công nghệ này sẽ giúp Việt Nam xây dựng khung pháp lý phù hợp hơn với bối cảnh phát triển mới. Đặc biệt, trong kỷ nguyên dữ liệu lớn (Big Data), các mô hình kinh doanh dựa trên khai thác dữ liệu đang đặt ra nhiều thách thức liên quan đến quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát có thể là giải pháp giúp doanh nghiệp thử nghiệm các nền tảng dữ liệu theo hướng vừa đảm bảo tuân thủ pháp luật, vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
2. Về điều kiện tham gia
Việc chấp nhận cho các start-up tham gia vào cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cho phép chia tách các thử nghiệm để kiểm tra những đổi mới, sáng tạo được đề xuất. Tiến hành thử nghiệm là việc làm phổ biến đối với cơ quan quản lý nhà nước trước khi cho ra mắt các sản phẩm và dịch vụ mới. Tuy nhiên, việc thử nghiệm được thực hiện trong cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát có sự khác biệt. Theo đó, việc thử nghiệm được cho phép bởi chính quyền. Hệ quả là cần phải xác lập các quy tắc nghiêm ngặt để giảm thiểu những rủi ro cho những start-up, cơ quan quản lý nhà nước và các khách hàng bị tác động bởi việc thử nghiệm.
Một số điều kiện chung áp dụng cho tất cả các start-up và thử nghiệm trong khuôn khổ sandbox bao gồm:
- Nguyên tắc hoạt động: Các doanh nghiệp tham gia phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản như đối xử công bằng với người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, đảm bảo minh bạch trong quá trình thử nghiệm và tuân thủ các quy định về an toàn, bảo mật.
- Giới hạn thời gian: Sandbox thường áp dụng thời gian thử nghiệm có giới hạn, nhằm đảm bảo rằng các đổi mới sáng tạo không trở thành một cơ chế "ngoại lệ" kéo dài vô thời hạn. Khi kết thúc thời gian thử nghiệm, các doanh nghiệp cần đưa ra báo cáo đánh giá về tính hiệu quả và rủi ro của sản phẩm hoặc dịch vụ được thử nghiệm.
- Nghĩa vụ báo cáo: Các doanh nghiệp tham gia phải báo cáo định kỳ về tiến độ thử nghiệm, tác động của sản phẩm/dịch vụ đối với thị trường và các biện pháp kiểm soát rủi ro. Cơ quan quản lý có quyền yêu cầu điều chỉnh hoặc chấm dứt thử nghiệm sớm nếu nhận thấy rủi ro vượt quá mức chấp nhận được.
- Cơ chế giám sát và chấm dứt thử nghiệm: Nếu doanh nghiệp không tuân thủ các điều khoản đã cam kết hoặc thử nghiệm cho thấy rủi ro vượt quá lợi ích tiềm năng, cơ quan quản lý có thể yêu cầu chấm dứt thử nghiệm sớm. Ngoài ra, cơ quan nhà nước cũng có quyền công khai thông tin về thử nghiệm và những bài học kinh nghiệm rút ra để phục vụ công tác xây dựng chính sách.
Về trách nhiệm pháp lý của chủ thể tham gia, cần nhấn mạnh rằng việc được miễn trừ một số quy định trong quá trình thử nghiệm không có nghĩa là doanh nghiệp được miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm đối với khách hàng hoặc bên thứ ba bị ảnh hưởng tiêu cực. Các doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại phát sinh do lỗi của họ, đồng thời đảm bảo tuân thủ các quy định chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Việc thiết lập các điều kiện tham gia một cách rõ ràng và chặt chẽ sẽ giúp cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trở thành một công cụ hiệu quả trong việc hỗ trợ đổi mới sáng tạo, đồng thời giảm thiểu những rủi ro không mong muốn đối với hệ thống pháp lý và xã hội.
3. Về quy trình, thủ tục
3.1. Quá trình thử nghiệm
(i) Thời gian: 12 tháng hoặc 24 tháng. Về cơ bản, khung pháp lý thí điểm sandbox luôn xác định trước cụ thể thời hạn cho các start-up tham gia. Nói cách khác, việc tham gia vào sandbox chỉ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời gian thử nghiệm, các start-up triển khai mô hình kinh doanh của mình dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước. Khi kết thúc giai đoạn thử nghiệm, doanh nghiệp sẽ rời khỏi sandbox và chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật hiện hành. Điều này có nghĩa là mô hình kinh doanh có thể tiếp tục hoạt động chính thức nếu chứng minh được tính khả thi và phù hợp với quy định pháp luật, hoặc có thể phải điều chỉnh để đáp ứng các yêu cầu pháp lý trước khi được cấp phép hoạt động chính thức. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, cơ quan quản lý có thể quyết định gia hạn thời gian thử nghiệm nếu xét thấy cần thêm dữ liệu để đánh giá tác động của mô hình kinh doanh hoặc nếu có những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quá trình thử nghiệm. Quyết định gia hạn này thường dựa trên đánh giá về hiệu quả, mức độ rủi ro và khả năng đáp ứng các yêu cầu pháp lý của doanh nghiệp tham gia sandbox.
(ii) Đánh giá, giám sát, báo cáo, kết luận: giám sát và đánh giá thường xuyên về khung pháp lý thử nghiệm cũng như đánh giá hiệu quả kinh doanh của các start-up, những vấn đề thực tiễn phát sinh từ hoạt động của các start-up trên thị trường và rủi ro tiềm năng nếu áp dụng ý tưởng kinh doanh của start-up chính thức và rộng rãi. Cơ quan quản lý sẽ theo dõi hiệu quả hoạt động của các start-up tham gia, bao gồm khả năng triển khai sản phẩm, mức độ tiếp cận thị trường và phản hồi từ người tiêu dùng. Đồng thời, việc đánh giá cũng xem xét các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, như những rủi ro tiềm ẩn đối với khách hàng, khả năng tác động đến hệ thống tài chính hoặc nền kinh tế, cũng như mức độ phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành.
Ngoài ra, cơ quan quản lý có thể yêu cầu các start-up tham gia thử nghiệm báo cáo định kỳ về tiến độ triển khai, những khó khăn gặp phải và tác động của sản phẩm hoặc dịch vụ đối với thị trường. Các báo cáo này sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý đưa ra quyết định điều chỉnh chính sách thử nghiệm hoặc xem xét khả năng mở rộng quy mô áp dụng ý tưởng kinh doanh.
Cuối cùng, khi kết thúc giai đoạn thử nghiệm, cơ quan quản lý sẽ tiến hành tổng kết và đánh giá toàn diện về kết quả đạt được. Kết luận này sẽ bao gồm việc xác định liệu mô hình kinh doanh có đủ điều kiện để triển khai chính thức hay không, hoặc cần bổ sung quy định pháp lý nào để tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của lĩnh vực thử nghiệm.
(iii) Điều tiết hoạt động trong quá trình thử nghiệm, cụ thể:
- Cơ quan có thẩm quyền cấp phép thử nghiệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình thử nghiệm do vai trò ra quyết định rằng một đổi mới, sáng tạo có thể được tiến hành thử nghiệm hay không. Cơ quan này có thể là chính quyền địa phương hoặc cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực[5].
- Cơ quan hướng dẫn, giám sát và đánh giá thử nghiệm có thể đồng thời là cơ quan cho phép thử nghiệm (trong trường hợp trao thẩm quyền quyết định cho cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực) hoặc là cơ quan đề xuất thử nghiệm (trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ quyết định cho phép thử nghiệm).
Cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực có vai trò hỗ trợ, hướng dẫn và giám sát cơ chế thử nghiệm. Vì vậy, cần quy định cơ quan quản lý ngành có một số trách nhiệm nhưng cũng được miễn trừ một số nội dung nhất định để các cơ quan này có động lực trong việc xây dựng triển khai sandbox trong lĩnh vực quản lý của mình.
Cấp phép hạn chế: khi một cuộc thử nghiệm thuộc nhóm chưa được pháp luật điều chỉnh cần được cho phép để vận hành và cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ đã được đề xuất đưa vào khung pháp lý thử nghiệm, cơ quan quản lý có thể ra một giấy phép hạn chế để cấp riêng cho start-up được tiến hành thử nghiệm. Việc cấp phép hạn chế có thể giúp cho việc cấp phép đầy đủ sau này trở nên dễ dàng hơn, trong trường hợp start-up làm đơn xin cấp phép khi kết thúc thử nghiệm.
Miễn áp dụng một số quy định pháp luật: trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền xác định rằng những đổi mới đang được đề xuất trong cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát bị làm khó hoặc bị cấm bởi quy định pháp luật, cơ quan quản lý có thể cho phép không thực hiện theo quy định hoặc áp dụng các miễn trừ tương tự. Việc miễn trừ có thể được sử dụng thay thế cho việc cấp phép hạn chế.
Thông báo không xử lý vi phạm: việc tuyên bố không xử lý vi phạm có thể được sử dụng nếu trong lúc thực hiện thử nghiệm, không thể chắc chắn liệu một quy định pháp luật có thể bị vi phạm và nếu vi phạm, thì vi phạm sẽ diễn ra như thế nào. Mục tiêu của công cụ này là đảm bảo các start-up sẽ không phải chịu các chế tài theo quy định nếu xảy ra những vấn đề không được dự liệu trước, với điều kiện họ tuân thủ các yêu cầu về thông số và nguyên tắc đã xác lập trước đó, đồng thời tích cực hợp tác và công khai thông tin với cơ quan quản lý trong quá trình thử nghiệm. Khi các công cụ như đề cập ở trên không cần thiết hoặc không khả thi, cơ quan quản lý có thể đưa ra cho start-up bộ hướng dẫn chính thức (bằng văn bản hoặc hình thức khác) về việc áp dụng các yêu cầu pháp lý đối với giải pháp đổi mới được đề xuất đưa vào không gian pháp lý thử nghiệm.
(iv) Đảm bảo an ninh, an toàn cho các nhân tố, hạn chế và ngăn chặn rủi ro tác động ra bên ngoài: định kỳ công bố thông tin trong quá trình thử nghiệm, start-up cần có cam kết trách nhiệm rõ ràng, minh bạch với khách hàng trong thời gian thử nghiệm.
(v) Ra quyết định tiếp tục, tạm dừng hay loại bỏ thử nghiệm. Sau khi kết thúc quá trình thử nghiệm trong khung pháp lý có kiểm soát (sandbox), cơ quan quản lý sẽ tiến hành đánh giá toàn diện để đưa ra quyết định về việc tiếp tục, tạm dừng hoặc loại bỏ thử nghiệm. Quyết định này dựa trên các tiêu chí quan trọng như mức độ thành công của mô hình kinh doanh, tác động đến thị trường, rủi ro tiềm ẩn và khả năng thích ứng với hệ thống pháp luật hiện hành.
- Tiếp tục thử nghiệm hoặc triển khai chính thức: Nếu mô hình kinh doanh chứng minh được tính khả thi, có lợi ích rõ ràng cho nền kinh tế và không gây ra rủi ro đáng kể, cơ quan quản lý có thể xem xét chuyển đổi thử nghiệm sang áp dụng chính thức. Điều này có thể đi kèm với việc xây dựng hoặc sửa đổi các quy định pháp luật để hợp pháp hóa hoạt động của mô hình này.
- Tạm dừng thử nghiệm: Trong một số trường hợp, cơ quan quản lý có thể quyết định gia hạn hoặc tạm dừng thử nghiệm nếu cần thêm dữ liệu để đánh giá tác động hoặc nếu xuất hiện những vấn đề chưa thể giải quyết ngay. Việc tạm dừng này giúp đảm bảo tính thận trọng, tránh rủi ro hệ thống hoặc những hậu quả tiêu cực chưa lường trước.
- Loại bỏ thử nghiệm: Nếu thử nghiệm không mang lại kết quả như mong đợi, gây ra rủi ro lớn cho thị trường hoặc vi phạm các nguyên tắc pháp lý cơ bản, cơ quan quản lý có thể ra quyết định chấm dứt hoàn toàn chương trình thử nghiệm và không cho phép triển khai mô hình kinh doanh này ở quy mô rộng.
(vi) Báo cáo kết quả và bước tiếp theo[6]. Khi kết thúc thử nghiệm, cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực cần đưa ra những đánh giá về kết quả của thử nghiệm. Kết quả có thể là thành công cũng có thể là thất bại, tuy nhiên, cho dù thành công hay thất bại thì cũng cần đánh giá nghiêm túc về khả năng ứng dụng mở rộng kết quả thử nghiệm hay rút ra những bài học kinh nghiệm để tránh lặp lại thất bại. Đặc biệt, nếu thử nghiệm được đánh giá thành công thì cần xây dựng chính sách, pháp luật để ứng dụng rộng rãi thành tựu, kết quả thử nghiệm. Làm được điều này thì vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động thử nghiệm mới được chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả của cơ chế thử nghiệm và cũng là để phòng ngừa rủi ro cho cơ quan quản lý nhà nước và cho các chủ thể khác tham gia vào sandbox.
3.2. Hành động sau thử nghiệm
Dựa trên kết quả của cuộc thử nghiệm, cơ quan quản lý có thể quyết định áp dụng các biện pháp triển khai tiếp theo liên quan đến những đổi mới sáng tạo chưa hoặc đã được pháp luật điều chỉnh đã được thử nghiệm trong không gian pháp lý thử nghiệm, quyết định về phân khúc thị trường hoặc về các yêu cầu pháp lý cụ thể có liên quan. Các hành động sau thử nghiệm có thể bị giới hạn đáng kể do thẩm quyền của cơ quan nhà nước quản lý. Chúng có thể bao gồm:
Cho phép đưa giải pháp đổi mới ra thị trường: Các kết quả phổ biến nhất từ các thử nghiệm trong cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soáthiện tại đối với những người cung cấp giải pháp đổi mới mà chưa được pháp luật cho phép là quyền gia nhập vào các thị trường luật định; và đối với các tổ chức đã được cấp phép là quyền để đưa ra thị trường các sản phẩm hoặc dịch vụ được thử nghiệm. Việc cho phép có thể là toàn bộ (ví dụ: cho phép hoạt động như một ngân hàng chính thức hoặc đưa ra thị trường sản phẩm mà không có bất kỳ điều kiện giới hạn nào) hoặc cho phép có giới hạn (ví dụ: cho phép hoạt động như một ngân hàng nhưng có giới hạn phạm vi hoạt động trong một số lĩnh vực được chấp nhận hoặc cho phép để đưa ra sản phẩm nhưng phải chịu những hạn chế nhất định).
Dỡ bỏ quy định cho từng trường hợp cụ thể hoặc theo nhóm: Việc dỡ bỏ quy định dành cho những start-up trước khi tiến hành thử nghiệm trong cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soátthể được tiếp tục hoặc chấm dứt khi thử nghiệm kết thúc. Dựa trên kết quả từ một hoặc nhiều thử nghiệm, cơ quan quản lý cũng có thể đưa ra những miễn trừ chung cho toàn bộ một phân khúc thị trường (ví dụ, miễn trừ cho các công ty fintech, miễn trừ các quy định về xác thực giao dịch thanh toán v.v.).
Đổi mới quy định pháp luật hoặc biện pháp giám sát: Dựa trên kết quả thử nghiệm, cơ quan quản lý có thể quyết định thay đổi quy định, chẳng hạn như để cho phép hoặc giảm bớt những rào cản đối với giải pháp sáng tạo. Những hoạt động giám sát có gây ra trở ngại đối với sự đổi mới sáng tạo cũng có thể được thay đổi.
Hướng dẫn các quy định: qua thử nghiệm, cơ quan quản lý có thể thấy rằng cần có các hướng dẫn bổ sung để áp dụng các quy định pháp luật đối với một số giải pháp đổi mới sáng tạo. Các hướng dẫn có thể được đưa ra cho riêng một start-up hoặc tất cả các tổ chức đã được cấp phép trong lĩnh vực đó. Việc thực hiện các hành động chung (chẳng hạn như hành động đem lại lợi ích cho các tổ chức khác bên cạnh những người có tham gia thử nghiệm) cũng quan trọng không kém việc việc thực hiện các hành động liên quan đến cá nhân người tham gia thử nghiệm khi họ kết thúc thử nghiệm. Mục đích của việc này là để tránh tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng hoặc là thiếu công bằng khi chỉ kéo dài việc miễn trừ hoặc các đặc quyền khác cho riêng cá nhân start-up. Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình thử nghiệm trong cơ chế pháp lý thử nghiệm có kiểm soát cần phải mang lại một cách tiếp cận nhất quán đối với những đổi mới sáng tạo có khả năng mang lại lợi ích cho thị trường, bao gồm cả việc cải thiện khung pháp luật nói chung.
C. KẾT LUẬN
Sandbox là một phương pháp để hỗ trợ hệ thống pháp lý thúc đẩy đổi mới sáng tạo, dựa trên nguyên lý “vừa học, vừa làm”. Vì vậy, cần phải thiết lập các quy định của khung pháp lý thử nghiệm theo hướng mở, linh hoạt cho phép nhanh chóng điều chỉnh.
Sandbox đem lại nhiều lợi ích, lợi ích trực tiếp cho các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách; lợi ích gián tiếp cho các tổ chức, doanh nghiệp có đổi mới sáng tạo tham gia sandbox; giúp công chúng, người tiêu dùng có nhiều chọn lựa và được phục vụ tốt hơn. Tuy nhiên, Sandbox cũng đặt ra nhiều thách thức về năng lực lập pháp, năng lực quản lý; quản lý rủi ro mới phát sinh từ đổi mới sáng tạo và xây dựng mối quan hệ hợp tác liên cơ quan.
TS. Chu Thị Hoa
Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp
Tào Nam Khánh
Sinh viên lớp 4630, Trường Đại học Luật Hà Nội
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chu Thị Hoa, Sandbox - cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế - kinh nghiệm quốc tế và một số gợi ý cho Việt Nam, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210382.
2. Đối thoại trực tuyến về những vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam thời 4.0, https://baophapluat.vn
3. TS. Trần Thị Quang Hồng, Sách nghiên cứu “Phát triển không gian pháp lý thử nghiệm cho công nghệ tài chính và các lĩnh vực công nghệ mới tại Việt Nam”, NXB Tư pháp, tháng 7 năm 2022.
4. ThS. Đặng Vân Phúc, TS. Chu Thị Hoa (2019), Một số gợi ý về xây dựng sandbox cho Việt Nam, Tạp chí Thông tin và truyền thông, Số tháng 8/2019.
[1] Thường được gọi tắt là Sandbox
[2] Chu Thị Hoa, Sandbox - cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế - kinh nghiệm quốc tế và một số gợi ý cho Việt Nam, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210382, truy cập ngày 20/3/2024.
[3] ĐCSVN, Nghị Quyết Số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ
động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, 2019.
[4] Đối thoại trực tuyến về những vấn đề pháp lý đặt ra cho Việt Nam thời 4.0, https://baophapluat.vn, truy cập ngày 22/2/2024.
[5] TS. Trần Thị Quang Hồng, Sách nghiên cứu “Phát triển không gian pháp lý thử nghiệm cho công nghệ tài chính và các lĩnh vực công nghệ mới tại Việt Nam”, NXB Tư pháp, tháng 7 năm 2022, trang 198.
[6] ThS. Đặng Vân Phúc, TS. Chu Thị Hoa (2019), Một số gợi ý về xây dựng sandbox cho Việt Nam, Tạp chí Thông tin và truyền thông, Số tháng 8/2019.


