Giới thiệu Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc
13/07/2025
Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, bên cạnh các hoạt động cạnh tranh lành mạnh đưa lại những kết quả tích cực, trong nền kinh tế cũng phát sinh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đây là hành vi của chủ thể kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh vi phạm quy định pháp luật, gây rối loạn trật tự cạnh tranh thị trường, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc người tiêu dùng. Các hành vi này làm sai lệch kết quả cạnh tranh công bằng trên thị trường, gây hại tiến trình phát triển của nền kinh tế. Chính vì thế, nhà nước Trung Quốc coi chống cạnh tranh không lành mạnh là yêu cầu nội tại để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển chất lượng cao, thúc đẩy hình thành môi trường cạnh tranh công bằng trên thị trường, tạo không gian phát triển rộng lớn cho các chủ thể kinh doanh, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh vừa và nhỏ, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng. Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc được ban hành từ năm 1993, đã qua hai lần sửa đổi vào các năm 2017 và 2019. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, đạo luật này đã chưa dự liệu được một số vấn đề mới phát sinh như: tình trạng hối lộ thương mại trong hoạt động giao dịch diễn ra phổ biến và cần được điều chỉnh chặt chẽ hơn; một số nhà kinh doanh trên nền tảng sử dụng dữ liệu, thuật toán và các quy tắc nền tảng để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên mạng. Do đó, Luật Cạnh tranh không lành mạnh đã được sửa đổi, bổ sung và ban hành vào ngày 27/6/2025. Luật này có 41 điều được chia thành 5 chương, có hiệu lực từ ngày 15/10/2025. Đạo luật được ban hành với mục đích “thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, khuyến khích và bảo vệ cạnh tranh công bằng, ngăn ngừa và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng.” Chủ thể kinh doanh theo quy định của Luật này bao gồm cá nhân, pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ (hàng hóa được đề cập sau đây bao gồm cả dịch vụ). Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhưng gây rối loạn trật tự cạnh tranh của thị trường trong nước, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể kinh doanh hoặc người tiêu dùng trong nước, thì được xử lý theo Luật này và các luật liên quan.
2. Những quy định chung trong chống cạnh tranh không lành mạnh
Theo Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc, trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ thể kinh doanh phải tuân thủ các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, công bằng, trung thực, tôn trọng pháp luật và đạo đức kinh doanh, tham gia cạnh tranh thị trường một cách công bằng.
Công tác chống cạnh tranh không lành mạnh phải tuân theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhà nước hoàn thiện hệ thống quy định chống cạnh tranh không lành mạnh, tăng cường thực thi pháp luật và tư pháp trong lĩnh vực này, duy trì trật tự cạnh tranh thị trường, xây dựng hệ thống thị trường thống nhất, mở cửa, cạnh tranh và có trật tự. Nhà nước thiết lập và hoàn thiện chế độ xem xét cạnh tranh công bằng, tăng cường công tác kiểm tra cạnh tranh công bằng theo pháp luật, đảm bảo mọi chủ thể kinh doanh được bình đẳng trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất và tham gia cạnh tranh thị trường một cách công bằng.
Chính quyền các cấp phải áp dụng các biện pháp để ngăn ngừa và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh công bằng. Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát và quản lý thị trường thuộc chính quyền cấp huyện trở lên tiến hành thanh tra, giám sát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; trường hợp luật hoặc quy định hành chính quy định cơ quan khác phụ trách thì thực hiện theo quy định đó.
Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ và bảo vệ mọi tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát xã hội đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức không được hỗ trợ hoặc bao che cho hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hiệp hội ngành nghề phải tăng cường tự quản lý ngành, hướng dẫn và quy phạm hoạt động cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh trong ngành theo pháp luật, bảo vệ trật tự cạnh tranh thị trường.
3. Các dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Thứ nhất, gây nhầm lẫn: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 7), chủ thể kinh doanh không được thực hiện các hành vi gây nhầm lẫn sau đây khiến người khác hiểu sai là hàng hóa của bên thứ ba hoặc có mối liên hệ đặc biệt với bên thứ ba: (1) Tự ý sử dụng nhãn hiệu, bao bì, kiểu dáng hoặc các dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn với hàng hóa có uy tín của người khác; (2) Tự ý sử dụng tên (bao gồm tên viết tắt, thương hiệu), họ tên (bao gồm bút danh, nghệ danh, tên mạng, tên dịch) có uy tín của người khác; (3) Tự ý sử dụng tên miền chính, tên website, trang web, tên tài khoản mạng xã hội, tên ứng dụng hoặc biểu tượng có uy tín của người khác; (4) Các hành vi gây nhầm lẫn khác khiến người khác hiểu sai là hàng hóa của bên thứ ba hoặc có mối liên hệ đặc biệt. Việc tự ý sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký hoặc nhãn hiệu nổi tiếng chưa đăng ký của người khác làm tên chủ thể kinh doanh, hoặc đặt tên hàng hóa, tên chủ thể kinh doanh (bao gồm tên viết tắt, thương hiệu), nhãn hiệu đã đăng ký hoặc chưa đăng ký của người khác làm từ khóa tìm kiếm nhằm gây nhầm lẫn, đều thuộc hành vi gây nhầm lẫn quy định tại khoản trên. Chủ thể kinh doanh không được hỗ trợ người khác thực hiện hành vi gây nhầm lẫn.
Thứ hai, hối lộ trong kinh doanh: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 8), chủ thể kinh doanh không được sử dụng tiền, tài sản hoặc các biện pháp khác để hối lộ các đơn vị, cá nhân sau nhằm giành cơ hội giao dịch hoặc lợi thế cạnh tranh: (1) Nhân viên của đối tác giao dịch; (2) Đơn vị hoặc cá nhân được đối tác giao dịch ủy quyền xử lý công việc liên quan; (3) Đơn vị hoặc cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc ảnh hưởng để tác động đến giao dịch. Các đơn vị và cá nhân nêu trên không được nhận hối lộ. Trong hoạt động giao dịch, chủ thể kinh doanh có thể chiết khấu công khai cho đối tác hoặc trả hoa hồng cho người trung gian. Việc chiết khấu hoặc trả hoa hồng phải được ghi chép rõ ràng trong sổ sách. Đối tác nhận chiết khấu hoặc hoa hồng cũng phải ghi chép đầy đủ. Hành vi hối lộ của nhân viên chủ thể kinh doanh được coi là hành vi của chủ thể kinh doanh, trừ trường hợp chủ thể kinh doanh chứng minh được hành vi đó không nhằm mục đích giành lợi thế cạnh tranh hoặc cơ hội giao dịch.
Thứ ba, quảng cáo sai sự thật: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 9), chủ thể kinh doanh không được đưa ra thông tin quảng cáo thương mại sai sự thật hoặc gây hiểu nhầm về tính năng, chất lượng, tình trạng tiêu thụ, đánh giá người dùng, danh hiệu đạt được của sản phẩm nhằm lừa dối hoặc gây hiểu lầm cho người tiêu dùng và chủ thể kinh doanh khác. Chủ thể kinh doanh không được thông qua việc tổ chức giao dịch giả, đánh giá giả mạo hoặc các hình thức khác để hỗ trợ chủ thể kinh doanh khác thực hiện quảng cáo thương mại sai sự thật hoặc gây hiểu nhầm.
Thứ tư, xâm phạm bí mật kinh doanh[1]: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 10), chủ thể kinh doanh không được thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh sau: (1) Sử dụng trộm cắp, hối lộ, lừa đảo, cưỡng ép, xâm nhập điện tử hoặc các thủ đoạn bất chính khác để chiếm đoạt bí mật kinh doanh của chủ sở hữu; (2) Tiết lộ, sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng bí mật kinh doanh đã chiếm đoạt bằng các thủ đoạn nêu trên; (3) Vi phạm nghĩa vụ bảo mật hoặc yêu cầu giữ bí mật của chủ sở hữu để tiết lộ, sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng bí mật kinh doanh mà mình nắm giữ; (4) Xúi giục, dụ dỗ, hỗ trợ người khác vi phạm nghĩa vụ bảo mật hoặc yêu cầu giữ bí mật của chủ sở hữu để chiếm đoạt, tiết lộ, sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng bí mật kinh doanh. Cá nhân, pháp nhân và tổ chức không phải chủ thể kinh doanh thực hiện hành vi vi phạm nêu trên cũng bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh.
Người thứ ba biết hoặc phải biết nhân viên, cựu nhân viên của chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện hành vi vi phạm khoản 1 Điều này nhưng vẫn chiếm đoạt, tiết lộ, sử dụng hoặc cho phép người khác sử dụng bí mật kinh doanh đó, thì bị coi là xâm phạm bí mật kinh doanh.
Thứ năm, hứa thưởng trái quy định: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 11), chủ thể kinh doanh tổ chức bán hàng có thưởng không được vi phạm các quy định sau: (1) Thông tin về loại giải thưởng, điều kiện trúng thưởng, giá trị giải thưởng không rõ ràng, ảnh hưởng đến việc nhận thưởng; (2) Sau khi chương trình khởi động, tự ý thay đổi thông tin về giải thưởng mà không có lý do chính đáng; (3) Sử dụng thủ đoạn gian dối như báo có giải nhưng không có hoặc bố trí người trúng thưởng trước; (4) Đối với bán hàng có thưởng theo hình thức bốc thăm, giá trị giải cao nhất không vượt quá 50.000 nhân dân tệ.
Thứ sáu, bịa đặt: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 12), chủ thể kinh doanh không được bịa đặt, phát tán hoặc xúi giục người khác bịa đặt, phát tán thông tin sai sự thật hoặc gây hiểu nhầm nhằm làm tổn hại uy tín kinh doanh hoặc danh tiếng sản phẩm của chủ thể kinh doanh khác.
Thứ bảy, lợi dụng dữ liệu, thuật toán, quy tắc nền tảng: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 13), chủ thể kinh doanh hoạt động kinh doanh trên mạng phải tuân thủ các quy định của Luật này.
Chủ thể kinh doanh không được lợi dụng dữ liệu, thuật toán, công nghệ, quy tắc nền tảng để tác động đến lựa chọn người dùng hoặc bằng cách khác thực hiện các hành vi sau gây cản trở, phá hoại hoạt động bình thường của sản phẩm/dịch vụ mạng hợp pháp do chủ thể kinh doanh khác cung cấp: (1) Tự ý chèn liên kết hoặc chuyển hướng bắt buộc trong sản phẩm/dịch vụ mạng hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác mà không được đồng ý; (2) Lừa dối, ép buộc người dùng sửa đổi, đóng hoặc gỡ bỏ sản phẩm/dịch vụ mạng hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác; (3) Cố ý gây mất tương thích với sản phẩm/dịch vụ mạng hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác; (4) Hành vi khác gây cản trở, phá hoại hoạt động bình thường của sản phẩm/dịch vụ mạng hợp pháp. Chủ thể kinh doanh không được: (1) dùng thủ đoạn gian dối, cưỡng ép, vượt qua hoặc phá hoại biện pháp quản lý kỹ thuật để chiếm đoạt, sử dụng dữ liệu hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác, gây tổn hại quyền lợi hợp pháp hoặc làm rối loạn trật tự cạnh tranh; (2) lạm dụng quy tắc nền tảng để trực tiếp hoặc xúi giục người khác thực hiện giao dịch giả, đánh giá sai lệch hoặc trả hàng ác ý nhằm tổn hại quyền lợi hợp pháp của chủ thể kinh doanh khác hoặc làm rối loạn thị trường.
Thứ tám, ép buộc: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 14), các nền tảng kinh doanh không được ép buộc hoặc biến tướng ép buộc các chủ thể kinh doanh trong nền tảng tuân theo quy tắc định giá của mình để bán hàng hóa dưới giá thành, gây rối loạn trật tự cạnh tranh thị trường.
Thứ chín, lạm dụng vị thế: Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 15), các chủ thể kinh doanh lớn và các chủ thể kinh doanh tương tự không được lạm dụng vị thế ưu thế về vốn, công nghệ, kênh giao dịch, ảnh hưởng ngành nghề để yêu cầu các chủ thể kinh doanh vừa và nhỏ chấp nhận các điều kiện giao dịch bất hợp lý như thời hạn thanh toán, phương thức, điều kiện và trách nhiệm vi phạm hợp đồng, gây nợ đọng hàng hóa, công trình, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh vừa và nhỏ.
4. Điều tra vi phạm
Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 16), cơ quan giám sát kiểm tra khi điều tra hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị nghi ngờ có thể áp dụng các biện pháp sau: (1) Tiến hành kiểm tra tại địa điểm kinh doanh có liên quan đến hành vi bị nghi ngờ; (2) Yêu cầu chủ thể kinh doanh bị điều tra, các bên liên quan và các đơn vị, cá nhân khác giải trình hoặc cung cấp tài liệu liên quan; (3) Truy vấn, sao chép các hợp đồng, sổ sách, chứng từ, hồ sơ, thư tín kinh doanh và tài liệu khác liên quan; (4) Tạm giữ, tịch thu tài sản liên quan đến hành vi bị nghi ngờ; (5) Truy vấn tài khoản ngân hàng của chủ thể kinh doanh bị nghi ngờ. Việc áp dụng các biện pháp trên phải được báo cáo bằng văn bản và được phê duyệt bởi người đứng đầu cơ quan giám sát kiểm tra. Riêng các biện pháp tại khoản 4 và 5 phải được báo cáo và phê duyệt bởi người đứng đầu cơ quan giám sát kiểm tra cấp thành phố trực thuộc trung ương trở lên. Cơ quan giám sát kiểm tra phải tuân thủ Luật Cưỡng chế Hành chính và các quy định pháp luật khác, đồng thời công khai kết quả xử lý kịp thời theo quy định pháp luật.
Chủ thể kinh doanh bị điều tra, các bên liên quan và các đơn vị, cá nhân khác phải cung cấp trung thực tài liệu và thông tin liên quan. Đối với chủ thể kinh doanh bị nghi ngờ vi phạm Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan giám sát kiểm tra có thể triệu tập người phụ trách để yêu cầu giải trình và đề xuất biện pháp khắc phục.
Cơ quan giám sát kiểm tra và nhân viên có trách nhiệm bảo mật thông tin bí mật kinh doanh, đời tư và thông tin cá nhân được biết trong quá trình điều tra theo quy định pháp luật.
Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền tố cáo hành vi cạnh tranh không lành mạnh với cơ quan giám sát kiểm tra. Cơ quan tiếp nhận tố cáo phải xử lý kịp thời theo pháp luật. Cơ quan giám sát kiểm tra phải công khai thông tin liên lạc tiếp nhận tố cáo (điện thoại, hòm thư, email) và bảo mật thông tin người tố cáo. Đối với tố cáo có danh tính kèm chứng cứ, cơ quan phải thông báo kết quả xử lý cho người tố cáo.
Các nền tảng kinh doanh phải: (1) Quy định rõ các nguyên tắc cạnh tranh công bằng trong thỏa thuận dịch vụ và quy tắc giao dịch; (2) Thiết lập cơ chế tiếp nhận tố cáo và giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh; (3) Hướng dẫn các chủ thể kinh doanh trong nền tảng cạnh tranh công bằng theo pháp luật; (4) Kịp thời áp dụng biện pháp xử lý khi phát hiện hành vi vi phạm, lưu trữ hồ sơ và báo cáo cơ quan giám sát kiểm tra cấp huyện trở lên nơi đặt trụ sở nền tảng.
5. Trách nhiệm pháp lý
Theo quy định của Luật Cạnh tranh không lành mạnh của Trung Quốc (Điều 22), chủ thể kinh doanh vi phạm các quy định của Luật này, gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Chủ thể kinh doanh có quyền lợi hợp pháp bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm có thể khởi kiện ra Tòa án Nhân dân. Số tiền bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra được xác định theo thiệt hại thực tế mà bên bị xâm hại phải chịu, hoặc lợi ích mà bên vi phạm thu được do hành vi xâm phạm. Trường hợp chủ thể kinh doanh cố ý thực hiện hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh với tính chất nghiêm trọng, thì số tiền bồi thường có thể được xác định bằng từ một đến năm lần mức thiệt hại xác định theo phương thức nêu trên. Tiền bồi thường còn bao gồm các chi phí hợp lý mà chủ thể kinh doanh phải bỏ ra để ngăn chặn hành vi xâm phạm. Trường hợp chủ thể kinh doanh vi phạm quy định tại Điều 7 hoặc Điều 10 của Luật này mà không thể xác định được thiệt hại thực tế của người có quyền lợi bị xâm phạm hoặc lợi ích mà bên vi phạm thu được, thì Tòa án Nhân dân có thể căn cứ vào tính chất của hành vi vi phạm để phán quyết mức bồi thường không vượt quá 5 triệu Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 7 của Luật này để thực hiện hành vi gây nhầm lẫn hoặc trợ giúp người khác thực hiện hành vi gây nhầm lẫn thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, tịch thu hàng hóa vi phạm. Nếu doanh thu từ hành vi kinh doanh vi phạm đạt 50.000 Nhân dân tệ trở lên, thì có thể bị phạt tiền tối đa gấp năm lần doanh thu vi phạm. Nếu không có doanh thu vi phạm hoặc doanh thu vi phạm dưới 50.000 Nhân dân tệ, thì có thể bị phạt tiền tối đa 250.000 Nhân dân tệ. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì bị thu hồi giấy phép kinh doanh. Đối với hành vi bán hàng hóa vi phạm quy định tại Điều 7 của Luật này, thì xử phạt theo quy định tại khoản trên. Trường hợp người bán không biết hàng hóa mà mình bán là hàng hóa vi phạm, có thể chứng minh hàng hóa được mua một cách hợp pháp và nêu rõ được người cung cấp hàng, thì cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng bán hàng, không xử phạt hành chính. Nếu tên đăng ký của chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 7 của Luật này, thì phải kịp thời thực hiện thủ tục thay đổi tên. Trước khi tên được thay đổi, cơ quan đăng ký sẽ dùng mã số tín dụng xã hội thống nhất thay thế tên vi phạm.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 8 của Luật này bằng cách hối lộ người khác hoặc nhận hối lộ, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra tịch thu toàn bộ thu nhập bất hợp pháp, và bị phạt từ 100.000 đến 1.000.000 Nhân dân tệ; trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt từ 1.000.000 đến 5.000.000 Nhân dân tệ, và có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật, người chịu trách nhiệm chính và cá nhân có trách nhiệm trực tiếp trong chủ thể kinh doanh nếu có trách nhiệm cá nhân đối với hành vi hối lộ, hoặc cá nhân nhận hối lộ, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra tịch thu thu nhập bất hợp pháp, và có thể bị phạt tiền lên đến 1.000.000 Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 9 của Luật này bằng cách thực hiện quảng cáo sai sự thật hoặc gây hiểu nhầm về hàng hóa của mình, hoặc bằng cách tổ chức giao dịch giả, đánh giá giả để hỗ trợ chủ thể kinh doanh khác thực hiện quảng cáo sai sự thật hoặc gây hiểu nhầm, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, và có thể bị phạt tiền đến 1.000.000 Nhân dân tệ. Trường hợp nghiêm trọng, bị phạt từ 1.000.000 đến 2.000.000 Nhân dân tệ, và có thể bị thu hồi giấy phép kinh doanh. Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 9 của Luật này bằng việc phát hành quảng cáo sai sự thật, thì bị xử phạt theo quy định của Luật Quảng cáo.
Chủ thể kinh doanh cũng như các cá nhân, pháp nhân và tổ chức phi pháp nhân khác vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật này và xâm phạm bí mật thương mại, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, tịch thu toàn bộ thu nhập bất hợp pháp, và phạt tiền từ 100.000 đến 1.000.000 Nhân dân tệ;
trường hợp nghiêm trọng, bị phạt từ 1.000.000 đến 5.000.000 Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 11 của Luật này và tiến hành các hoạt động bán hàng có thưởng trái pháp luật thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, và phạt tiền từ 50.000 đến 500.000 Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 12 của Luật này, gây tổn hại đến uy tín thương mại hoặc danh tiếng hàng hóa của chủ thể kinh doanh khác thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, khắc phục hậu quả, và phạt tiền từ 100.000 đến 1.000.000 Nhân dân tệ; trường hợp nghiêm trọng, bị phạt từ 1.000.000 đến 5.000.000 Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 của Điều 13 của Luật này, lợi dụng mạng Internet để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, và phạt tiền từ 100.000 đến 1.000.000 Nhân dân tệ; trường hợp nghiêm trọng, bị phạt từ 1.000.000 đến 5.000.000 Nhân dân tệ.
Người vận hành nền tảng vi phạm Điều 14 của Luật này bằng cách ép buộc hoặc lách luật để ép buộc các chủ thể kinh doanh trong nền tảng bán hàng với mức giá thấp hơn giá thành, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh ngừng hành vi vi phạm, và phạt tiền từ 50.000 đến 500.000 Nhân dân tệ; trường hợp nghiêm trọng, bị phạt từ 500.000 đến 2.000.000 Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Điều 15 của Luật này và lạm dụng vị trí ưu thế của mình, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra từ cấp chính quyền nhân dân cấp tỉnh trở lên ra lệnh khắc phục trong thời hạn quy định; nếu không khắc phục trong thời hạn, bị phạt đến 1.000.000 Nhân dân tệ; trường hợp nghiêm trọng, bị phạt từ 1.000.000 đến 5.000.000 Nhân dân tệ.
Chủ thể kinh doanh vi phạm Luật này để thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nếu có tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật như chủ động loại bỏ hoặc giảm nhẹ hậu quả, thì được xem xét giảm nhẹ hoặc miễn giảm xử phạt hành chính; trường hợp hành vi vi phạm là nhẹ và đã được kịp thời khắc phục, không gây ra hậu quả, thì không xử phạt hành chính.
Chủ thể kinh doanh vi phạm quy định của Luật này và bị xử phạt hành chính thì bị ghi vào hồ sơ tín dụng, và được công bố công khai theo quy định của pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật hành chính có liên quan. Chủ thể kinh doanh vi phạm quy định của Luật này thì phải chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Nếu tài sản của chủ thể kinh doanh không đủ để thực hiện toàn bộ các trách nhiệm này, thì ưu tiên thực hiện trách nhiệm dân sự.
Tổ chức, cá nhân cản trở cơ quan giám sát, kiểm tra thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật này, từ chối hoặc gây trở ngại cho quá trình điều tra, thì bị cơ quan giám sát, kiểm tra ra lệnh khắc phục vi phạm; cá nhân vi phạm có thể bị phạt tối đa 10.000 Nhân dân tệ; tổ chức vi phạm có thể bị phạt tối đa 100.000 Nhân dân tệ.
Người có liên quan không đồng ý với quyết định do cơ quan giám sát, kiểm tra ban hành có thể, theo quy định của pháp luật, nộp đơn xin xem xét lại hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính.
Công chức của cơ quan giám sát, kiểm tra nếu có hành vi lạm dụng chức quyền, thiếu trách nhiệm, tư lợi cá nhân, hoặc tiết lộ bí mật thương mại, thông tin cá nhân, quyền riêng tư cá nhân mà mình biết được trong quá trình điều tra, thì bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.
Hành vi vi phạm quy định của Luật này mà cấu thành vi phạm quản lý trật tự an toàn xã hội, thì bị xử lý theo quy định pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực này; trường hợp cấu thành tội phạm, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình xét xử dân sự liên quan đến hành vi xâm phạm bí mật thương mại, nếu người có quyền đối với bí mật thương mại xuất trình được chứng cứ sơ bộ chứng minh mình đã áp dụng biện pháp bảo mật và có căn cứ hợp lý cho rằng quyền của mình bị xâm phạm, thì người bị nghi ngờ xâm phạm phải chứng minh rằng bí mật thương mại bị cáo buộc đó không thuộc phạm vi bí mật thương mại theo quy định của Luật này. Nếu người có quyền đối với bí mật thương mại đã cung cấp chứng cứ sơ bộ chứng minh có hành vi xâm phạm và đồng thời cung cấp một trong các loại chứng cứ sau, thì người bị nghi ngờ xâm phạm phải chứng minh mình không có hành vi xâm phạm bí mật thương mại: (1) Có chứng cứ cho thấy người bị nghi ngờ xâm phạm có khả năng tiếp cận hoặc cơ hội tiếp cận bí mật thương mại, và thông tin họ sử dụng về bản chất giống với bí mật thương mại đó; (2) Có chứng cứ cho thấy bí mật thương mại đã bị tiết lộ, sử dụng hoặc có nguy cơ bị tiết lộ, sử dụng bởi người bị nghi ngờ xâm phạm; (3) Có chứng cứ khác cho thấy bí mật thương mại đã bị người bị nghi ngờ xâm phạm xâm hại.
TS. Nguyễn Văn Cương
Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
[1] Bí mật kinh doanh là thông tin thương mại như thông tin kỹ thuật, thông tin kinh doanh chưa được công bố rộng rãi, có giá trị thương mại và được chủ sở hữu áp dụng biện pháp bảo mật phù hợp.


